<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lưu trữ myaloha - Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</title>
	<atom:link href="https://hiu.vn/category/doan-hoi-hiu/myaloha/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://hiu.vn</link>
	<description>Chuyên sâu về Khoa học Sức khoẻ &#38; các ngành ứng dụng trong Kinh doanh - Công Nghệ - Xã hội - Ngôn ngữ</description>
	<lastBuildDate>Sat, 15 Nov 2025 10:38:49 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=5.7.6</generator>

<image>
	<url>https://hiu.vn/wp-content/uploads/2020/02/cropped-Logo-HBU-Final-1-32x32.png</url>
	<title>Lưu trữ myaloha - Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</title>
	<link>https://hiu.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Kỷ niệm 110 năm ngày sinh của đồng chí Lê Văn Lương (28/3/1912 – 28/3/2022)</title>
		<link>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-cua-dong-chi-le-van-luong/</link>
					<comments>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-cua-dong-chi-le-van-luong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đoàn Thanh niên]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 05 Jun 2022 17:21:21 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[myaloha]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://hiu.vn/?p=58939</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-cua-dong-chi-le-van-luong/">Kỷ niệm 110 năm ngày sinh của đồng chí Lê Văn Lương (28/3/1912 – 28/3/2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="kc-elm kc-css-554815 kc-row-container module"><div class="wc-row row"><div class="kc-wrap-columns"><div class="kc-elm kc-css-594826 small-12 columns small-12"><div class="kc-col-container"><div class="kc-elm kc-css-113841 kc_text_block"></p>
<p>
<span class="MoTa" style="margin: 0px; padding: 5px; box-sizing: border-box; font-size: 13px; font-style: italic; color: gray; display: block; font-weight: bold; font-family: arial;"><b><i> </i></b><u style="color: #5d5d5d; font-family: Roboto, sans-serif; font-size: 16px; font-style: inherit; box-sizing: border-box;"><span id="post__summary" class="post__summary post__item mt-3" style="box-sizing: border-box; font-size: 1rem; line-height: 1.7;">Đoàn trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên truyền <b><i>Kỷ niệm 110 năm ngày sinh của đồng chí Lê Văn Lương, lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam (28/3/1912 &#8211; 28/3/2022)</i></b></span></u></span></p>
<p><b><strong>I- KHÁI LƯỢC TIỂU SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ VĂN LƯƠNG</strong></b></p>
<p>Đồng chí Lê Văn Lương, tên thật là Nguyễn Công Miều, sinh ngày 28/3/1912 trong một gia đình nhà nho tại làng Xuân cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Năm 1927, Đồng chí gia nhập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Tháng 6/1929, Đồng chí gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng &#8211; một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam và đến khi Đảng Cộng sản ra đời, Đồng chí trở thành đảng viên  Đảng Cộng sản.</p>
<p>Cuối năm 1929, thực hiện chủ trương “Vô sản hóa”, Lê Văn Lương cùng một số đồng chí được cử vào Nam Kỳ hoạt động. Cuối năm 1930, Đồng chí được tổ chức điều động về hoạt động tại hãng dầu Socony (hãng dầu Nhà Bè) với nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, chỉ đạo phát triển chi bộ đảng và xây dựng các tổ chức quần chúng trong công nhân. Tháng 01/1931, diễn ra Đại hội Tổng Công hội Nam Kỳ lần thứ II, đồng chí Lê Văn Lương được bầu làm ủy viên Tổng Công hội Nam Kỳ.</p>
<p>Đến tháng 3/1931, Đồng chí bị chính quyền thực dân Pháp bắt và giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Năm 1933, Đồng chí bị kết án tử hình cùng với 7 người khác, sau đó được giảm xuống án chung thân và bị đày ra Côn Đảo. Tháng 9/1945, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Đồng chí được đón về Nam Bộ, tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Nam Bộ. Tháng 10/1945, Đồng chí được cử làm ủy viên dự khuyết Xứ ủy Nam Bộ. Tháng 01/1946, Đồng chí được Trung ương điều ra Bắc, giúp Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ đạo Báo Sự thật và Nhà xuất bản Sự thật. Đầu năm 1947, Đồng chí được cử làm Bí thư Văn phòng Thường vụ Trung ương Đảng. Năm 1948 làm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.</p>
<p>Năm 1949, đồng chí Lê Văn Lương được cử kiêm nhiệm Giám đốc đầu tiên của Trường Nguyễn Ái Quốc &#8211; Trường Đảng ở Trung ương từ năm 1949 đến năm 1956.</p>
<p>Tháng 02/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Năm 1953, Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban Cải cách ruộng đất Trung ương do đồng chí Trường Chinh làm Trưởng Ban, đồng chí Lê Văn Lương được phân công tham gia Ban lãnh đạo Cải cách ruộng đất.</p>
<p>Hòa bình lập lại, năm 1954, Đồng chí giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 11/1956, Đồng chí được chỉ định làm Bí thư Khu ủy Tả ngạn. Tháng 8/1957, Đồng chí làm Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Đầu năm 1959, Đồng chí giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.</p>
<p>Tháng 9/1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Ban Bí thư. Năm 1973, Đồng chí được phân công kiêm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng.</p>
<p>Tháng 12/1976, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, Đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị. Từ năm 1976 đến năm 1986, đông chí Lê Văn Lương được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị điều động và phân công làm Bí thư Thành ủy Hà Nội.</p>
<p>Đồng chí là đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VI và khóa VII.</p>
<p>Cuối năm 1986, do tuổi cao sức yếu, Đồng chí không tham gia Trung ương, thôi giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội. Trong thời gian này, Đồng chí tiếp tục được Bộ Chính trị phân công tham gia tổng kết công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ.</p>
<p>Đồng chí Lê Văn Lương từ trần ngày 25/4/1995 tại Bệnh viện Quân y 108 Hà Nội, thọ 83 tuổi.</p>
<p>Với gần 70 năm hoạt động và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí Lê Vãn Lương được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.</p>
<p><b><strong>II- NHỮNG ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ VĂN LƯƠNG ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ DÂN TỘC</strong></b></p>
<ol>
<li><b><strong> Đồng chí Lê Văn Lương thuộc lớp đảng viên đầu tiên của Đảng &#8211; Người cộng sản kiên trung, bất khuất</strong></b></li>
</ol>
<p>Sinh ra trong một gia đình nho học và khoa bảng ở một địa phương có truyền thống hiếu học và yêu nước, đồng chí Lê Văn Lương đã kế thừa được các phẩm chất cao quý của gia đình, dòng họ và quê hương. Từ những năm học trường Bưởi, cùng với người bạn học Nguyễn Văn Cừ, Lê Văn Lương được Ngô Gia Tự giác ngộ cách mạng. Năm 1927, khi mới 15 tuổi, là học sinh Trường Bưởi, Đồng chí đã tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, được tư tưởng Nguyễn Ái Quốc dẫn đường, đồng chí Lê Văn Lương luôn thể hiện nhiệt huyết của tuổi trẻ muốn được hiến thân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thực dân, phong kiến. Tháng 6/1929, Đồng chí gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng. Tháng 8/1929, đồng chí Lê Văn Lương được cử vào Nam bộ hoạt động, cùng với đồng chí Ngô Gia Tự trong phong trào công nhân Sài Gòn để thực hiện chủ trương “Vô sản hóa” của Đảng. Tháng 01 năm 1930, đồng chí Ngô Gia Tự thay mặt Trung ương Đông Dương Cộng sản Đảng công nhận đồng chí là đảng viên chính thức của Đảng. Sau khi trở thành đảng viên chính thức, đồng chí càng tích cực hoạt động nhằm xây dựng cơ sở và phát triển đảng viên mới trong công nhân, lao động Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn.</p>
<p>Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Ở Nam Kỳ, đồng chí Ngô Gia Tự đại diện cho Đông Dương Cộng sản Đảng đã bắt liên lạc với các đồng chí trong ban lãnh đạo An Nam Cộng sản Đảng, thành lập “Ban Lâm thời chấp ủy” của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nam Kỳ. Đồng chí Ngô Gia Tự được bầu làm Bí thư Ban Lâm thời chấp ủy Nam Kỳ, đặt trụ sở tại một ngôi nhà ở góc đường Kitchener và đường Grimaud (nay là góc đường Nguyễn Thái Học và đường Phạm Ngũ Lão). Dưới sự chỉ đạo của Ban Lâm thời chấp ủy, các tổ chức cộng sản được tiến hành hợp nhất thành các chi bộ đảng cộng sản. Thực hiện chủ trương của Ban chấp uỷ, đồng chí Lê Vãn Lương (lúc này có bí danh là Phạm Văn Khương) cùng với các đồng chí Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Lê Quang Sung, Phạm Ký đã đứng ra thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam của công nhân hãng Faci.</p>
<p>Cuối năm 1930, đồng chí Lê Văn Lương được tổ chức điều động về hoạt động tại hãng dầu Socony (hãng dầu Nhà Bè) với nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, chỉ đạo phát triển chi bộ đảng và xây dựng các tổ chức quần chúng trong công nhân. Với sự nhiệt tình, phong cách làm việc sâu sát, gần gũi anh em công nhân, đồng chí Lê Văn Lương được anh em công nhân rất tin tưởng và ủng hộ. Chỉ trong một thời gian ngắn, chi bộ đảng của công nhân được củng cố, tổ chức Công hội của hãng đã được thành lập, lôi kéo được đông đảo công nhân tham gia.</p>
<p>Bước sang năm 1931, phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn ngày càng phát triển mạnh mẽ và đi vào chiều sâu, mang tính chất chính trị rõ rệt. Ngày 01/01/1931, diễn ra Đại hội Tổng Công hội Nam Kỳ lần thứ 2, đồng chí Lê Vãn Lương được bầu làm Uỷ viên Tổng Công hội Nam Kỳ.</p>
<p>Ngày 23/3/1931 nổ ra cuộc đấu tranh của công nhân Hãng dầu Nhà Bè do đồng chí Lê Văn Lương và một số đồng chí trong Xứ ủy Nam Kỳ và Thành ủy Sài Gòn trực tiếp chỉ đạo nhưng đã bị thực dân Pháp đàn áp; đồng chí Lê Văn Lương đã bị địch bắt.</p>
<p>Sau hơn hai năm giam giữ và dùng mọi cực hình tra tấn, kẻ thù vẫn không hề lấy được một lời khai nào, chúng đành phải dựng lên một phiên tòa để xét xử đồng chí và những đảng viên Đảng cộng sản khác. Từ ngày 02 đến ngày 09/5/1933, Tòa án Đại hình Sài Gòn mở phiên tòa xử án 120 chiến sĩ Cộng sản trong đó có đồng chí Lê Văn Lương. Báo chí thời đó gọi là “Vụ án Đảng Cộng sản Đông Dương”. Trước tòa án của kẻ thù các đồng chí Ngô Gia Tự, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Nguyễn Chí Diểu, Bùi Lâm, Hà Huy Giáp và các đồng chí khác đã nêu cao phẩm chất, khí phách của người yêu nước, cách mạng, dũng cảm bảo vệ lý tưởng cộng sản và mục tiêu giành độc lập dân tộc của Đảng Cộng sản.</p>
<p>Mặc dù không có đủ chứng cứ nhưng bọn quan toà vẫn tuyên án tử hình đối với 8 đồng chí trong đó có Lê Văn Lương, Phạm Hùng; 19 người khổ sai chung thân trong đó có Ngô Gia Tự, Nguyễn Chí Diểu, Hà Huy Giáp; 21 người án 20 năm khổ sai và 17 người 15 năm khổ sai. Những lời lẽ phản kháng của đồng chí Lê Văn Lương và các đảng viên cộng sản khác trong phiên tòa đã vang động trong lòng người dân Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn lúc đó và tạo nên một phong trào đấu tranh của nhân dân đòi địch phải giảm án cho những người cộng sản. Những ngày chờ đợi lên máy chém, với bản lĩnh và khí phách của người cộng sản chân chính, họ đã khiến những viên cai ngục nổi tiếng tàn bạo phải nể trọng.</p>
<p>Do những tác động tích cực của cách mạng thế giới; trước khí thế đấu tranh của nhân dân Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn và phong trào của lực lượng tiến bộ Pháp và sự đấu tranh trực tiếp của các đảng viên Cộng sản, thực dân Pháp buộc phải giảm các án tử hình xuống chung thân khổ sai. Năm 1934, địch đày đồng chí Lê Văn Lương và các bạn tù ra giam giữ ở Côn Đảo. Suốt 15 năm lao tù, trong đó có hơn 11 năm tại Côn Đảo, Đồng chí luôn giữ vững khí tiết cách mạng, phẩm chất người cộng sản. Tấm gương kiên cường, bất khuất của Đồng chí có ảnh hưởng tích cực đến những người tù trên đảo, đến phong trào cách mạng ở trong nước thông qua những đồng chí được trả tự do hay hết hạn tù. Với tinh thần “Biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng”, đồng chí Lê Văn Lương đã cùng với các đồng chí của mình thành lập Chi bộ cộng sản ngay tại nơi “Địa ngục trần gian” ấy. Đồng thời cũng tại đây, đồng chí được chi bộ cử vào Ban lãnh đạo nhà tù Côn Đảo, lãnh đạo các đảng viên trong nhà tù đấu tranh kiên cường với kẻ thù. Chi bộ cũng đã liên lạc với Đảng ở trong đất liền mà trực tiếp là Xứ ủy Nam Kỳ, giới thiệu các đồng chí hết hạn tù trở về tiếp tục công việc cách mạng; tổ chức đấu tranh đòi ân xá tù chính trị, đấu tranh đòi cải thiện chế độ sinh hoạt và đời sống trong tù; đấu tranh với những quan điểm sai trái của những tù nhân Việt Nam Quốc dân Đảng, cảm hóa một số người yêu nước chân chính của Quốc dân Đảng theo lập trường cách mạng của Đảng Cộng sản.</p>
<p>Giữa năm 1934, Chi ủy Chi bộ nhà tù Côn Đảo gồm các đồng chí Ngô Gia Tự, Trần Quang Tặng, Phạm Hùng, Nguyễn Công Khương (tức Lê Văn Lương) đã lãnh đạo thành công cuộc đấu tranh của những người tù xe củi từ An Hải vê Lò Than buộc địch phải nhượng bộ để 7 người đẩy 1 xe (trước là 5 người đẩy xe). Chi bộ đã cùng với Hội tù nhân đấu tranh đòi cai ngục giảm nhẹ lao động đối với tù nhân ôm đau, giảm nhẹ khổ sai.</p>
<p>Ngày đi làm khổ sai, tối đến đồng chí Lê Văn Lương vẫn cần mẫn viêt bài chỉ đạo cho báo “Tiến lên”, tờ báo bí mật của Hội tù nhân, hướng dẫn đấu tranh trong tù và tập san “Ý kiến chung” &#8211; tập san nghiên cứu lý luận trong tù. Đến tháng 7/1935, khi đồng chí Trần Văn Giàu bị bắt và đày ra đảo, đồng chí Lê Văn Lương đã bàn với đồng chí Phạm Hùng giao cho đồng chí Trần Văn Giàu mở lớp dạy lý luận trong tù, bản thân đồng chí cũng là một học viên chăm chỉ của lớp, tấm gương của đồng chí có ảnh hưởng tích cực đến những người tù ở toàn đảo, đến phong trào cách mạng ở trong nước qua những đồng chí được trả lại tự do hay hết hạn tù.</p>
<p>Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Văn Lương luôn thể hiện là một người cộng sản chân chính, vì nước, vì dân, vì sự nghiệp của Đảng.</p>
<ol start="2">
<li><b><strong> Đồng chí Lê Văn Lương, lãnh đạo tiền bối tiêu biểu, có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác xây dựng Đảng</strong></b></li>
</ol>
<p>Đồng chí Lê Văn Lương đã trải qua nhiều trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, trên cương vị nào, đồng chí luôn nêu gương sáng về lòng tận tụy, trung thành, cần, kiệm, liêm, chính, luôn đặt lợi ích cách mạng lên trước hết và trên hết.</p>
<p>Năm 1948, khi được bầu bổ sung làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được chỉ định làm Chánh Văn phòng Trung ương, Đồng chí là người làm việc bên cạnh Bác Hồ và các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng giúp Tổng Bí thư Trường Chinh giải quyết các công việc hằng ngày của Đảng. Khi các Ban Đảng lần lượt ra đời: Đảng vụ (Tổ chức), Kiểm tra, Dân vận, Tài chính, với cương vị Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, đồng chí đã trực tiếp tổ chức xây dựng Văn phòng Trung ương thật sự trở thành cơ quan tham mưu đắc lực của Đảng. Những ngày đầu thành lập, trong hoàn cảnh chiến tranh, vừa phải xây dựng, củng cố tổ chức, vừa tìm tòi, cải tiến phương pháp làm việc, lại phải di chuyển liên tục, nhưng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê Văn Lương, công việc của Văn phòng Trung ương Đảng được tổ chức thông suốt, bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo, bảo vệ tài liệu của Đảng, giữ mối liên hệ giữa Trung ương và các khu ủy, tỉnh ủy. Đặc biệt, đồng chí Lê Văn Lương đã góp phần quan trọng vào việc soạn thảo Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương (miền Bắc Đông Dương) bàn về tổ chức các ban, tiểu ban ở Trung ương và cấp ủy địa phương.</p>
<p>Trong thời gian làm Trường ban Đảng vụ từ 1948 &#8211; 1950, Đồng chí đã giúp Trung ương Đảng soạn thảo Điều lệ Đảng mới, giúp Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chuẩn bị về một số công việc liên quan đến tổ chức &#8211; cán bộ&#8230; góp phần tích cực vào công tác chuẩn bị tổ chức Đại hội Đảng lần thứ II.</p>
<p>Trên cương vị Giám đốc Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc (1949 &#8211; 1956), đồng chí Lê Văn Lương đã góp phần giúp Trung ương Đảng tổ chức thành công Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập. Bám sát nhiệm vụ chính trị, đường lối cách mạng Việt Nam, quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đồng chí luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trong các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đồng chí Lê Văn Lương đã trực tiếp giảng dạy, giải đáp những vấn đề về đường lối của Đảng, về lịch sử, kinh nghiệm và lý luận cách mạng Việt Nam cho các học viên. Trên cương vị Giám đốc đầu tiên của Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Lê Văn Lương đã có đóng góp to lớn đưa nhà trường vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, phát triển về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó trong công tác huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng lý luận &#8211; chính trị cho cán bộ, đảng viên.</p>
<p>Khi đảm nhiệm vai trò Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng, đồng chí Lê Văn Lương đã có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp xây dựng Đảng ngày càng lớn mạnh, như: Xác định rõ mục đích, tôn chỉ của công tác tổ chức, xây dựng Đảng trong điều kiện lịch sử mới; kiện toàn bộ máy tổ chức của Đảng; tổ chức Đảng trong vùng bị địch tạm chiếm, trong Quân đội và Công an; mở đầu xây dựng, kiện toàn và đặt nền nếp cho sự hoạt động của Ban Tổ chức Trung ương; góp phần xây dựng và hoàn thiện đường lối, chính sách công tác tổ chức &#8211; cán bộ của Đảng. Với vai trò chỉ đạo trực tiếp của Đồng chí, Đảng ta đã phát triển được đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực, có hệ thống cơ sở Đảng vững mạnh ở các cấp, ngành, địa phương với cơ chế hoạt động ngày càng tiến bộ. Đối với công tác tổ chức, đồng chí Lê Văn Lương luôn kiên nhẫn, tỉ mỉ, có trách nhiệm cao đối với sinh mạng chính trị của cán bộ đảng viên. Đồng chí luôn chú trọng tới công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng; đấu tranh không khoan nhượng đối với cái sai; gần gũi quần chúng, giúp đỡ đồng chí mình tiến bộ. Đồng chí đã luôn đi sát cơ sở, đặc biệt chú trọng chỉ đạo thực hiện đường lối, chính sách cán bộ của Đảng.</p>
<p>Trên cương vị 10 năm làm Bí thư Thành ủy Hà Nội (giai đoạn 1976 &#8211; 1986), đồng chí Lê Văn Lương đã cùng tập thể Thành ủy lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân Thủ đô đạt được nhiều thành tích quan trọng trên mọi mặt công tác: chính trị, kinh tế, văn hóa &#8211; xã hội, giáo dục, đối ngoại, quốc phòng &#8211; an ninh, khoa học &#8211; kỹ thuật&#8230; trở thành điểm sáng để các địa phương trong cả nước học tập, noi theo.</p>
<p>Đồng chí Lê Văn Lương luôn nêu cao tấm gương trọn đời phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng. Dù ở cương vị công tác nào, Đồng chí đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, luôn trung thành, tận tụy với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng, hết sức phụng sự cách mạng, phục vụ Nhân dân. Ớ đồng chí Lê Văn Lương có cái “Tầm” của một người làm công tác tổ chức &#8211; cán bộ của Đảng và có cái “Tình” trong cách ứng xử với mọi người, yêu thương cán bộ, gần gũi với quần chúng, vì sự tiến bộ của đồng chí của mình.</p>
<p>Đồng chí Lê Văn Lương nhà lãnh đạo có nhân cách cao đẹp, trong sáng, sống có tình, có nghĩa với đồng chí, đồng bào, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh</p>
<p>Tấm gương sáng về lòng yêu nước thương dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân</p>
<p>Lòng yêu nước, thương dân là yếu tố quan trọng trong hành trang của đồng chí Lê Văn Lương, khi quyết định đi theo con đường cách mạng của thế hệ đi trước (trong thời kỳ 1930 &#8211; 1945), Đồng chí đã vượt qua nhiều gian lao, thử thách để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, nhân dân giao phó (15 năm rèn luyện, đấu tranh trong lao tù đế quốc, nhiều lần chiến đấu chống lại kẻ thù tàn bạo).</p>
<p>Những năm tháng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, rôi trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng chí Lê Văn Lương được phân công đảm nhận các cương vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, phụ trách các lĩnh vực, như: công tác văn phòng, tổ chức, nội vụ, công tác tư tưởng, giáo dục lý luận chính trị, báo chí, xuất bản. Dù ở bất cứ cương vị công tác nào, Đồng chí cũng nêu gương sáng về lòng tận tụy, trung thành, cần, kiệm, liêm, chính, khiêm tốn giản dị và trung thực, luôn đặt lợi ích cách mạng lên trước hết và trên hết. Cuộc đời hoạt động cách mạng trong sáng của Đồng chí gắn liền với sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân.</p>
<p>Luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và dân tộc, giữ vững ý thức tổ chức kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng</p>
<p>Là một nhà chính trị, được rèn luyện và trưởng thành trong đấu tranh cách mạng trong lao tù đế quốc, có thể làm việc và hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, đồng chí Lê Văn Lương luôn luôn chấp hành sự phân công, điều động của Đảng, luôn làm việc hết sức mình trên tinh thần tự giác, tận tụy, cỏ trách nhiệm trước Đảng và dân tộc. Với Đồng chí bất cứ việc gì có lợi cho dân, cho nước, cho Đảng thì sẵn sàng nhận và hoàn thành với kết quả tốt nhất.</p>
<p>Trong quá trình cải cách mộng đất và chỉnh đốn tổ chức, đồng chí Lê Văn Lương là người tích cực đi xuống cơ sở nắm tình hình, xác minh những sai lầm để báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, giúp Trung ương đề ra những biện pháp sửa sai.</p>
<p>Gương mẫu trong công tác, giản dị trong lối sống, gần gũi, hòa mình với đồng bào, đồng chí</p>
<p>Đồng chí Lê Văn Lương có lối sống hòa đồng, gần gũi với mọi người. Trải qua quá trình hoạt động cách mạng sôi nổi và nhiệt huyết, qua những năm tháng rèn luyện trong lao tù đế quốc, những năm tháng làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân cách của đồng chí Lê Văn Lương được bộc lộ một cách rõ nét “Là một người kiên định, tận tụy, kín đáo, cẩn thận, trầm tĩnh nhưng đi vào nội tâm mọi người với tình cảm chân thành”.</p>
<p>Là một người luôn nêu cao ý thức trách nhiệm, suốt đời hết lòng, hết sức, tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, không màng danh lợi bản thân. Suốt những năm tháng hoạt động cách mạng khó khăn, gian khổ hay trên bất cứ cương vị công tác nào, Đông chí luôn được sự che chở, đùm bọc, tin yêu của đồng bào, đồng chí, để lại một hình ảnh đẹp về người cộng sản chân chính trong lòng mọi người.</p>
<p>Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Lê Văn Lương đã để lại những tình cảm tốt đẹp trong lòng đồng chí, đồng nghiệp và quần chúng Nhân dân. Khi nhắc đến Đông chí, mọi người đều nghĩ ngay đến một người cộng sản kiên cường, dũng cảm, chân thực, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng, người đông chí mẫu mực đạo đức cách mạng trong sáng, chí công vô tư, một người con ưu tú của dân tộc Việt Nam.</p>
<p>Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Lê Văn Lương trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức do tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19; thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả và từng bước phục hồi, duy trì các hoạt động kinh tế, ổn định xã hội, đời sống nhân dân. Thành kính, tưởng nhớ và tri ân công lao, đóng góp của đồng chí Lê Văn Lương và các đồng chí lãnh đạo tiên bôi tiêu biểu của Đảng, chúng ta nguyện ra sức thi đua học tập, lao động, công tác và chiến đấu, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.</p>
<p><b><strong>BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG</strong></b></p>
<p><span class="MoTa" style="margin: 0px; padding: 5px; box-sizing: border-box; font-size: 13px; font-style: italic; color: gray; display: block; font-weight: bold; font-family: arial;"> </span></p>
<p><!-- /wp:paragraph --></p>
<p>
</div></div></div></div></div></div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-cua-dong-chi-le-van-luong/">Kỷ niệm 110 năm ngày sinh của đồng chí Lê Văn Lương (28/3/1912 – 28/3/2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-cua-dong-chi-le-van-luong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Tô Hiệu (1912 – 2022)</title>
		<link>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-to-hieu/</link>
					<comments>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-to-hieu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đoàn Thanh niên]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 05 Jun 2022 17:12:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[myaloha]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://hiu.vn/?p=58936</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-to-hieu/">Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Tô Hiệu (1912 – 2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<style type="text/css"></style>
<div class="kc-elm kc-css-1615007 kc-row-container module">
<div class="wc-row row">
<div class="kc-wrap-columns">
<div class="kc-elm kc-css-47512 small-12 columns small-12">
<div class="kc-col-container">
<div class="kc-elm kc-css-907500 kc_text_block">
<p><b><u><span id="post__summary" class="post__summary post__item mt-3">Đoàn trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên truyền </span><span style="font-style: inherit;">Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh của đồng chí Tô Hiệu (1912 &#8211; 2022)</span></u></b></p>
<p><b>I. KHÁI LƯỢC TIỂU SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ TÔ HIỆU</b></p>
<p>Tô Hiệu sinh năm 1912 tại thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên &#8211; mảnh đất giàu truyền thống văn hiến, quê hương của khởi nghĩa Bãi Sậy nổi danh trong cả nước và được nuôi dạy trong một gia đình nền nếp.</p>
<p>Năm 14 tuổi, khi đang theo học tại trường Pháp &#8211; Việt ở thị xã Hải Dương, Tô Hiệu đã tham gia phong trào bãi khoá đòi tổ chức lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Vì hoạt động này, nên mặc dù học rất giỏi, năm 1926 Tô Hiệu vẫn bị buộc thôi học. Phải rời trường nhưng dấu ấn tinh thần yêu nước đã in đậm trong tinh thần Tô Hiệu, đây cũng là bước dấn thân hướng vào con đường cách mạng của anh.</p>
<p>Từ năm 1927 &#8211; 1929, Tô Hiệu lên Hà Nội để học Cao đẳng tiểu học ở trường Trí Tri[1]. Trong thời gian này, anh tiếp tục tham gia các hoạt động đấu tranh cách mạng. Qua thử thách, được kết nạp vào Học sinh Đoàn, một đoàn thể do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hà Nội tổ chức.</p>
<p>Đầu năm 1930, Tô Hiệu vào Sài Gòn hoạt động cách mạng cùng với anh ruột là Tô Chấn, một lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng. Ngày 25/8/1930, Tô Hiệu bị thực dân Pháp bắt, đến ngày 28/12/1930 bị đưa ra xét xử tại Tòa án Sài Gòn, kết án 4 năm tù, đày đi Côn Đảo. Trong thời gian này, Tô Hiệu kiên cường tham gia đấu tranh trong tù, tích cực học tập lý luận cách mạng, nhanh chóng giác ngộ và có bản lĩnh vững vàng.</p>
<p>Cuối năm 1932, Tô Hiệu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương trong ngục tù đế quốc ở Côn Đảo, đây là bước chuyển quyết định và toàn diện của Tô Hiệu &#8211; từ một người yêu nước nhiệt thành trở thành một đảng viên cộng sản.</p>
<p>Năm 1934, hết hạn tù Côn Đảo, Đồng chí bị thực dân Pháp đưa về quản thúc ở quê hương Xuân Cầu, Văn Giang. Mặc dù bị quản thúc nhưng Đồng chí không chịu khuất phục, vừa tìm hiểu tình hình và gây dựng phong trào cách mạng ở quê hương, vừa tìm mọi cách vượt qua sự bao vây, phong tỏa của địch để bắt liên lạc với Đảng.</p>
<p>Năm 1936, đồng chí Tô Hiệu cùng các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) và nhiều đồng chí khác xây dựng lại hệ thống tổ chức đảng và chỉ đạo phong trào đấu tranh của quần chúng đòi dân sinh, dân chủ ở Hà Nội và vùng phụ cận.</p>
<p>Nhà cách mạng, liệt sỹ Tô Hiệu (1912 &#8211; 1944)<br />
Nhà cách mạng, liệt sỹ Tô Hiệu (1912 &#8211; 1944)</p>
<p>Giữa tháng 5/1937, Xứ ủy lâm thời Bắc Kỳ đã được thành lập, đồng chí Tô Hiệu được bầu là Ủy viên Thường vụ Xứ ủy. Cuối tháng 11/1937, Đồng chí được cử làm Ủy viên Thường vụ Liên Xứ ủy Bắc Kỳ &#8211; Bắc Trung Kỳ.</p>
<p>Từ cuối năm 1937 đến đầu năm 1938, Đồng chí đã tiến hành nhiều chuyến đi tới Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương chăm lo công tác xây dựng cơ sở cách mạng, xây dựng tổ chức đảng ở các địa phương này.</p>
<p>Tháng 02/1939, Đồng chí được Xứ ủy phân công phụ trách Khu ủy khu B[2] và là Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Đồng chí đã tích cực chỉ đạo, đưa phong trào cách mạng ở đây lên cao, gây nhiều tiếng vang mạnh mẽ trong và ngoài nước.</p>
<p>Ngày 01/12/1939, đồng chí Tô Hiệu đến cơ sở in ở xóm thợ Thượng Lý (Hải Phòng) kiểm tra việc in truyền đơn tuyên truyền chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới thì bị địch bắt. Mặc dù kẻ thù đã tra tấn dã man, ra sức mua chuộc, nhưng không thể lay chuyển được ý chí cách mạng kiên cường của đồng chí Tô Hiệu. Cuối tháng 12/1939, chúng đã xử mức án 5 năm tù và đầu năm 1940 đày Đồng chí đi Nhà tù Sơn La. Tại đây, đồng chí đã tích cực tham gia tổ chức những chiến sĩ cộng sản đấu tranh chống chế độ lao tù đế quốc.</p>
<p>Trung tuần tháng 02/1940, Chi bộ Nhà tù Sơn La được thành lập, đồng chí Tô Hiệu được cử làm Chi ủy viên, kiêm Tổ trưởng tổ đảng. Tháng 5/1940, Đại hội Chi bộ bí mật được triệu tập, quyết định các chủ trương, công tác cụ thể, đồng chí Tô Hiệu được bầu làm Bí thư Chi bộ.</p>
<p>Đến tháng 10/1941, đồng chí Tô Hiệu thôi không giữ chức Bí thư Chi bộ Nhà tù vì lý do sức khỏe, song Đồng chí vẫn là cố vấn đặc biệt tin cậy của Chi ủy, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ huấn luyện và tuyên truyền.</p>
<p>Do chế độ hà khắc của nhà tù thực dân và căn bệnh hiểm nghèo, vào hồi 10 giờ 15 phút, ngày 07/3/1944, đồng chí Tô Hiệu hy sinh tại Nhà tù Sơn La và được an táng tại nghĩa trang Gốc Ổi (nghĩa trang Nhà tù Sơn La) trong niềm tiếc thương vô hạn của anh em, đồng chí.</p>
<p>Với ba mươi hai năm tuổi đời, 18 năm quyết dấn thân và hy sinh vì độc lập của dân tộc, vì tự do và hạnh phúc của Nhân dân, cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Tô Hiệu là một tấm gương sáng của một chiến sĩ tiên phong, người cộng sản kiên trung, một nhà lãnh đạo tài năng của Đảng ta.</p>
<p><b>II. NHỮNG PHẨM CHẤT, CỐNG HIẾN CỦA ĐỒNG CHÍ TÔ HIỆU ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ DÂN TỘC</b></p>
<p><b><i>1. Đồng chí Tô Hiệu &#8211; một thanh niên yêu nước nhiệt thành, một chiến sỹ cộng sản tiền bối tiêu biểu của Đảng ta</i></b></p>
<p>Ngay từ nhỏ, Tô Hiệu đã tỏ ra thông minh và học giỏi, khiến bạn bè và anh em trong gia đình, dòng họ khâm phục. Mùa thu năm 1923, Tô Hiệu bắt đầu cuộc hành trình tự lập trong cuộc đời, được gia đình cho xuống Hải Dương học trường tỉnh. Tiếp nối truyền thống yêu nước của gia đình, dòng họ, quê hương, khi mới 14 tuổi, Tô Hiệu đã tham gia các phong trào bãi khóa, để tang cụ Phan Châu Trinh nên đã bị nhà trường thực dân đuổi học. Khi chuyển lên Hà Nội học, Tô Hiệu vẫn tích cực tham gia các phong trào yêu nước; và tại đây, anh được kết nạp vào Học sinh đoàn &#8211; một tổ chức của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, làm nhiệm vụ tuyên truyền, kết nạp người vào các đoàn thể quần chúng, đi dự mít tinh, biểu tình, phát truyền đơn, treo cờ, giăng biểu ngữ, dán áp phích vào những ngày lễ hội hay ngày kỷ niệm Quốc tế Lao động (1/5), kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11)&#8230; Do hoạt động tích cực, Tô Hiệu đã được tổ chức vào tổ đội thanh niên xích vệ, có nhiệm vụ đi bảo vệ những cuộc mít tinh, biểu tình và các đồng chí diễn thuyết.</p>
<p>Năm 1930, sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng thất bại, thực dân Pháp khủng bố, đàn áp dã man tất cả các phong trào yêu nước. Nhiều đồng chí cán bộ cách mạng bị bắt. Tô Hiệu bị mật thám theo dõi gắt gao, đã theo người anh ruột Tô Chấn, một lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân Đảng lúc ấy, vào Nam hoạt động. Sau kế hoạch ám sát hai viên Toàn quyền Pháp và Toàn quyền Hà Lan không thành, Tô Hiệu, Tô Chấn và một số người khác đã bị thực dân Pháp bắt. Tô Hiệu lúc ấy mới 18 tuổi, đã bị chúng kết án “4 năm tù giam và phạt 50 đồng vì tội gia nhập tổ chức bí mật và có hành vi bạo lực”, đày đi Côn Đảo.</p>
<p>Tại nhà tù Côn Đảo, Tô Hiệu từng bước chú ý tìm hiểu các tù nhân và mở rộng các mối quan hệ. Hàng ngày, theo sự chỉ dẫn trực tiếp của Tô Chấn, Tô Hiệu càng trở nên gần gũi và học tập những người tù cộng sản, từng bước tham gia vào các hoạt động trong tù. Biết Tô Hiệu còn rất trẻ, nhiều triển vọng, có nhiều phẩm chất của một người cộng sản kiên cường, khi ra tù nhất định sẽ góp phần không nhỏ vào việc gây dựng và phát triển phong trào cách mạng trong quần chúng nhân dân của Đảng ta, các đồng chí lớn tuổi hơn, hoạt động lâu năm và có nhiều kinh nghiệm hơn như Ngô Gia Tự, Tôn Đức Thắng… đã dành nhiều thời gian, công sức bồi dưỡng đồng chí Tô Hiệu hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác &#8211; Lênin, Luận cương chính trị của Đảng, kinh nghiệm vận động quần chúng công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh vận, kinh nghiệm công tác bí mật… Theo sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Tô Hiệu tích cực tham gia các hoạt động trong nhà tù và không ngừng học tập, rèn luyện bản thân. Cũng tại đây, Tô Hiệu chính thức trở thành đảng viên của Đảng cộng sản Đông Dương khi 20 tuổi.</p>
<p>Lòng yêu nước, tư tưởng tiến bộ cách mạng của người chiến sỹ cộng sản Tô Hiệu còn thể hiện ở tinh thần hiếu học và mong muốn đồng bào được học hành, mở mang kiến thức. Sau khi mãn hạn tù, năm 1934, đồng chí Tô Hiệu trở về làng Xuân Cầu. Tại quê hương, dù vẫn bị mật thám và bọn lý dịch trong làng theo dõi nhưng Đồng chí không ngừng tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao dân trí, dân sinh, nâng cao thể lực của thanh, thiếu niên. Đồng chí đã tổ chức các sinh hoạt thể dục thể thao, chơi cờ tướng để tập hợp thanh, thiếu niên thành các nhóm sinh hoạt tùy theo lứa tuổi, sở thích. Đây là những tổ chức sơ khai, có lãnh đạo để hình thành “Hội Nông dân tương tế”, “Hội Ái hữu”&#8230; sau này. Đồng chí còn mở lớp dạy học tại nhà cho trẻ em trong làng. Qua lớp học, đã giáo dục lòng yêu nước, căm thù giặc cho các em. Không chỉ vậy, với mong muốn thế hệ trẻ trong vùng được mở mang kiến thức, đồng chí Tô Hiệu đã vận động bà con trong làng và người làng làm ăn ở xa góp công, góp của xây dựng Trường Kiêm bị Xuân Cầu[3], một hình thức trường tiểu học chỉ có ở huyện lỵ lúc ấy. Để dễ vận động bà con và củng cố mối đoàn kết xóm làng, Đồng chí đã nêu ra khẩu hiệu: “Kẻ góp của, người góp công; mong sao cho trường học chóng xong; tinh thần đoàn kết muôn năm!”</p>
<p><b><i>2. Đồng chí Tô Hiệu &#8211; nhà lãnh đạo tài năng của Đảng, có đóng góp to lớn trong việc khôi phục hệ thống tổ chức Đảng và phong trào cách mạng</i></b></p>
<p>Là một đảng viên cộng sản, đồng chí Tô Hiệu chú ý đến công tác xây dựng Đảng từ rất sớm. Cũng trong thời gian ở quê hương, Đồng chí bí mật tuyên truyền, vận động quần chúng, gây dựng cơ sở cách mạng. Nhà cụ Cả Y, thân mẫu đồng chí Tô Hiệu, trở thành một cơ sở cách mạng tin cậy của Đảng, là nơi nuôi giấu nhiều cán bộ trong Xứ ủy Bắc Kỳ như các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Huy Liệu&#8230; Đồng chí Tô Hiệu còn vận động, tuyên truyền lý tưởng cộng sản cho thanh niên yêu nước các vùng lân cận. Chi bộ cộng sản đầu tiên ở huyện Văn Lâm ra đời có sự đóng góp không nhỏ từ những lần tuyên truyền của đồng chí Tô Hiệu. Đồng chí đã bắt liên lạc với tổ chức, tham gia hoạt động khôi phục Xứ ủy Bắc Kỳ và phong trào cách mạng ở Bắc Kỳ. Khi là Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, phụ trách khu B, Đồng chí trở thành một trong những chiến sĩ tiên phong, góp phần thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng, củng cố và xây dựng tổ chức đảng trong giai cấp công nhân, nông dân và trí thức, học sinh ở vùng duyên hải nước ta.</p>
<p>Trong thời gian là Bí thư Thành ủy Hải Phòng, đồng chí Tô Hiệu chú trọng công tác tuyên truyền, rải truyền đơn, dán áp phích để dân chúng biết Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn tồn tại. Đồng thời, Đồng chí còn đặc biệt coi trọng đấu tranh trên lĩnh vực báo chí. Đồng chí đã sáng lập ra tờ Chiến đấu, cơ quan tuyên truyền của Liên tỉnh B, bản thân Đồng chí vừa là chủ bút, vừa tích cực viết bài. Đồng chí còn trực tiếp giác ngộ, đào tạo nhiều cán bộ cách mạng, sau này đã trở thành cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước[4].</p>
<p>Bên cạnh đó, đồng chí Tô Hiệu còn rất quan tâm đến công tác công vận, lấy các cuộc đấu tranh của công nhân làm nòng cốt cho phong trào cách mạng của quần chúng. Do vậy, chỉ trong khoảng từ tháng 3/1939 đến tháng 8/1939, dưới sự chỉ đạo của Thành ủy Hải Phòng, đứng đầu là đồng chí Tô Hiệu, Hải Phòng đã có tới 30 cuộc đấu tranh, bằng số cuộc đấu tranh của cả hai năm 1937, 1938 cộng lại. Các cuộc đấu tranh do đồng chí Tô Hiệu trực tiếp lãnh đạo đều nổ ra một cách vang dội. Điển hình là cuộc đấu tranh của công nhân Nhà máy Tơ (5/1939) kéo dài suốt 1 tháng, cuộc biểu tình chống tăng thuế buộc chính quyền thực dân, các chủ nhà máy phải nhượng bộ, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đánh giá cao trong các báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản. Đồng chí đã để lại những bài học tổng kết cả lý luận và thực tiễn về sử dụng và kết hợp các phương thức, hình thức đấu tranh cách mạng, như phát động toàn thể dân chúng đấu tranh nhưng lấy lực lượng công nhân làm nòng cốt; sử dụng linh hoạt khẩu hiệu đấu tranh trong từng thời điểm, phù hợp với từng điều kiện của nhà máy, bến cảng, từ thấp đến cao, gắn đòi quyền lợi kinh tế với chính trị; kết hợp đấu tranh trực diện với các biện pháp tuyên truyền qua báo chí, truyền đơn, tuyên truyền miệng&#8230;</p>
<p>Trong thời gian ở Nhà tù Sơn La, được bầu là Bí thư Chi bộ Nhà tù, đồng chí Tô Hiệu vừa chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, vừa quan tâm thành lập các tổ chức trong nhà tù (vì lúc ấy, tù chính trị ở Sơn La còn có cả những đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng). Đồng chí đã vượt lên bệnh tật để tổ chức công tác giáo dục trong tù, viết nhiều tài liệu quan trọng cho Chi bộ, mở các lớp chính trị, quân sự, văn hóa, bồi dưỡng giảng viên, hướng dẫn các cuộc đấu tranh… Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Nhà tù, đời sống trong tù được tổ chức rất quy mô và khoa học. Ủy ban Nhà tù được thành lập để lãnh đạo mọi mặt. Ủy ban Nhà tù lại tổ chức ra các ban: Trật tự trong, Trật tự ngoài, Kinh tế, Cứu tế, Hồng thập tự, Đối ngoại, Sản xuất, Dân vận, Binh vận, Học tập và xuất bản báo Suối Reo…, để chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho anh em tù nhân, tôi luyện bản lĩnh và kinh nghiệm đấu tranh cách mạng. Cuối năm 1942, Chi bộ Nhà tù Sơn La đã được Ban Chấp hành Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ công nhận là Chi bộ đặc biệt, phụ trách Nhà tù Sơn La và phong trào cách mạng ở tỉnh Sơn La… Sau này, nhiều chiến sỹ cộng sản là đảng viên Chi bộ Nhà tù Sơn La đều trở thành những cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội như đồng chí Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Thanh Bình, Mai Chí Thọ…</p>
<p>Đặt vào từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong những điều kiện hết sức khó khăn, phức tạp của quá trình vận động phong trào cách mạng trước sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp mới thấy hết vai trò tiên phong, tài năng tổ chức và những cống hiến to lớn trong tổ chức xây dựng Đảng và xây dựng phong trào cách mạng ở nước ta của đồng chí Tô Hiệu. Bằng những hoạt động thực tế rất hiệu quả, đồng chí đã góp phần không nhỏ vào việc chuẩn bị những điều kiện cơ bản cho Đảng và phong trào cách mạng nước ta bước vào giai đoạn vận động tiến tới cách mạng tháng Tám năm 1945, để lại cho Đảng nhiều kinh nghiệm có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.</p>
<p><b><i>3. Đồng chí Tô Hiệu &#8211; người chiến sĩ cộng sản kiên trung, bất khuất, trọn đời chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập tự do, hạnh phúc của dân tộc</i></b></p>
<p>Cuộc đời của đồng chí Tô Hiệu phấn đấu kiên cường, vượt qua mọi thử thách, gian lao của cuộc đấu tranh sinh tử vì mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam.</p>
<p>Phải lao động kiếm sống tự lập từ nhỏ và tự học tập, rèn luyện từ lúc mới 14 tuổi, với ý chí can trường, Tô Hiệu đã từng bước trưởng thành từ người yêu nước chân chính trở thành người chiến sĩ cộng sản mẫu mực, rồi đạt đến tầm cao của nhà lãnh đạo cách mạng tiên phong kiên cường ở thời kỳ kẻ thù tiến hành mọi phương sách khủng bố làm tan rã cả hệ thống tổ chức của Đảng, lúc phong trào cách mạng và tinh thần đấu tranh của nhân dân bị đàn áp tới tột cùng. Mặc dù hai lần bị địch bắt và đày ải trong những nơi địa ngục trần gian, nhưng đó là hai lần đồng chí đã “biến cái rủi thành may” để làm giàu trí tuệ, nghị lực phục vụ cho Đảng và dân tộc, cùng các đồng chí của mình biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng. Ý chí kiên cường của đồng chí Tô Hiệu đã khiến quân thù phải khiếp sợ.</p>
<p>Thời gian bị đày ra Côn Đảo, tuy bị lao phổi, nhưng Đồng chí vẫn cần mẫn học hành, trau dồi tri thức và kinh nghiệm hoạt động cách mạng. Khi bị thực dân Pháp bắt lần 2, tại Hải Phòng, dù bị bọn mật thám đánh đập dã man, Đồng chí vẫn không hề hé răng tiết lộ tài liệu, cơ sở cách mạng. Trong phiên tòa xét xử, khi bị luận tội, dù thân thể tàn tạ do bệnh tật và đòn roi quân thù, Đồng chí vẫn hiên ngang, dõng dạc tố cáo tội ác của thực dân Pháp và tay sai, khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc là con đường đúng đắn. Đặc biệt, khi bị đày ở nhà tù Sơn La, dù bị đói rét và bệnh lao hành hạ, đồng chí Tô Hiệu vẫn giữ vững ý chí chiến đấu. Đồng chí đã không ngừng làm việc, viết các bài tuyên truyền, lý luận cách mạng, lãnh đạo anh em tù đấu tranh với quân thù, khiến bọn cai ngục và chính tên Công sứ Sơn La Cút-xô khét tiếng gian ác phải nể phục, run sợ.</p>
<p>Ngay cả khi sức khỏe đã cùng kiệt, đồng chí Tô Hiệu vẫn là và mãi là một chỗ dựa tinh thần, một ý chí để cổ vũ, động viên những người cộng sản giữ vững chí khí đấu tranh và quyết tâm suốt đời phấn đấu vì mục tiêu lý tưởng cộng sản, cho dù đang ở nơi đen tối nhất trong ngục tù đế quốc. Đánh giá về đồng chí Tô Hiệu, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã viết “Cuộc đời đồng chí tuy ngắn ngủi, nhưng những cống hiến của đồng chí cho dân tộc và cho cách mạng thật là to lớn”.</p>
<p><b><i>4. Tấm gương và “Tinh thần Tô Hiệu” là tài sản vô giá đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc</i></b></p>
<p>Cuộc đời của đồng chí Tô Hiệu đã để lại bài học to lớn về truyền thống yêu nước không chỉ với lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng mà còn của cả dân tộc Việt Nam. Tấm gương hy sinh anh dũng, bất khuất của Đồng chí là sự tiếp nối những gương anh hùng trong lịch sử nước nhà. Tinh thần yêu nước, “thà chết chứ không chịu làm nô lệ” của con dân nước Việt qua tấm gương Tô Hiệu ở thời đại Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục được nối dài theo từng giai đoạn lịch sử dân tộc, mỗi khi Tổ quốc bị các thế lực ngoại bang dòm ngó.</p>
<p>Tấm gương và “Tinh thần Tô Hiệu” không chỉ thể hiện ở lòng yêu nước, phẩm chất đạo đức cách mạng, “đặt lợi ích của Đảng và của Nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc” mà còn thể hiện ở thái độ lạc quan cách mạng.</p>
<p>Trong chốn lao tù đế quốc, với vô vàn thiếu thốn, gian khổ về vật chất, sự hành hạ về tinh thần và vật vã với bệnh tật, đồng chí Tô Hiệu vẫn động viên đồng chí, đồng đội của mình tin tưởng vào tương lai của cách mạng. Dù biết chắc chắn mình sẽ hy sinh vì bệnh lao phổi đã ở giai đoạn cuối, Đồng chí càng hăng say viết tài liệu, viết báo, tuyên truyền và lãnh đạo Chi bộ Nhà tù Sơn La. Đồng chí tâm sự “mình biết chắc chắn rằng mình sẽ chết sớm hơn người khác, vì vậy phải tranh thủ thời gian để chiến đấu, phục vụ cho Đảng” và “mình chỉ e chết sớm không làm hết những điều dự định”. Ý thức bảo vệ uy tín của Đảng cũng được thể hiện rõ khi bệnh tật hành hạ, đau đớn, Đồng chí vẫn kiên cường: “Chắc chắn mình không sống được. Mình có gan tự tử nhưng mình không muốn làm điều đó. Nó để lại nỗi buồn và sự day dứt cho anh em, bởi người không hiểu sẽ có những lời bàn tán không hay. Mặt khác, địch cũng sẽ có thể đặt nghi vấn, phiền phức”. Trước khi đi xa, Đồng chí đã dặn lại các đồng chí của mình: “ánh sáng ngày mai đã ló ở phía chân trời, hãy chuẩn bị đương đầu với những thử thách lớn nhất”.</p>
<p>Cây đào do đồng chí Tô Hiệu trồng tại Nhà tù Sơn La trong thời gian, bị giam giữ ở đây đã trở thành biểu tượng không chỉ cho tinh thần đấu tranh bất khuất kiên cường của các chiến sỹ cộng sản tại Nhà tù Sơn La, mà còn là “biểu tượng của sức sống cách mạng vươn lên từ đất chết, là lời nhắn nhủ cho hậu thế rằng mùa xuân nhân loại, chủ nghĩa cộng sản sẽ ra hoa kết trái trên mảnh đất Việt Nam thân yêu”. Hình tượng Tô Hiệu và cây đào Tô Hiệu đã trở thành hình tượng văn học, nghệ thuật quen thuộc đối với nhân dân Việt Nam và thế giới.</p>
<p>Lịch sử ghi nhận những cống hiến to lớn của đồng chí Tô Hiệu, nhưng một điều hiếm có và rất đặc biệt là còn mãi lưu truyền trong các thế hệ cách mạng tên gọi biểu tượng của đồng chí: “Tinh thần Tô Hiệu”. Đây là một nguồn động lực cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất của các chiến sĩ cộng sản, góp phần đưa tới thành công của sự nghiệp cách mạng. Sự hy sinh của đồng chí Tô Hiệu không phải chấm dứt một sự sống mà là sự khơi nguồn cho một sức phấn đấu mạnh mẽ mới của những người cộng sản Việt Nam trên con đường chinh phục mục tiêu độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho tất cả đồng bào của mình.</p>
<p>***</p>
<p>Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh của đồng chí Tô Hiệu (1912 &#8211; 2022), người cộng sản kiên cường, bất khuất, trọn đời chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập tự do của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời hoạt động và những cống hiến to lớn của Đồng chí đối với Đảng và cách mạng Việt Nam. Đồng thời, qua đó tuyên truyền, giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của các thế hệ cách mạng tiền bối, để các thế hệ hôm nay học tập, noi theo. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác &#8211; Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt là công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng đã xác định rõ lộ trình và đạt được nhiều thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng vĩ đại đó của cả dân tộc cũng đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức, đòi hỏi phải phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước của toàn dân, sự tiên phong, gương mẫu của những người cộng sản với một ý chí và quyết tâm vô cùng to lớn, dám nghĩ, dám làm, mở đường mà đi. Chúng ta có thể tìm thấy giá trị tinh thần tiên phong đó ở tấm gương người cộng sản Tô Hiệu để đưa công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đi đến đích cuối cùng.</p>
<p>BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG</p>
<p>[1] Nay là trường Trung học cơ sở Nguyễn Du ở phố Hàng Quạt, Hà Nội.</p>
<p>[2] Sau Hội nghị Trung ương tháng 11/1939 mới đổi thành Liên tỉnh B gồm có Hưng Yên (từ Bần, Yên Nhân về phía Nam), Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An (đến bến đò Khu), Quảng Yên, Uông Bí, Hòn Gai và Móng Cái.</p>
<p>[3] Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Trường Kiêm bị Xuân Cầu được đổi tên thành Trường Tiểu học Tô Hiệu.</p>
<p>[4] Đồng chí Nguyễn Thanh Bình (nguyên Ủy viên Bộ chính trị, Thường trực Ban Bí thư), đồng chí Hoàng Ngân (Bí thư Trung ương Hội Phụ nữ Cứu quốc Việt Nam), đồng chí Ngô Minh Loan (nguyên Bộ trưởng Bộ Lương thực &#8211; Thực phẩm)…</p>
<p><!-- /wp:paragraph --></p>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-to-hieu/">Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Tô Hiệu (1912 – 2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-to-hieu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Nguyễn Văn Cừ (09/07/1912 – 09/07/2022)</title>
		<link>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-nguyen-van-cu/</link>
					<comments>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-nguyen-van-cu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đoàn Thanh niên]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 05 Jun 2022 17:00:41 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[myaloha]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://hiu.vn/?p=58933</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-nguyen-van-cu/">Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Nguyễn Văn Cừ (09/07/1912 – 09/07/2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<style type="text/css"></style>
<div class="kc-elm kc-css-4233365 kc-row-container module">
<div class="wc-row row">
<div class="kc-wrap-columns">
<div class="kc-elm kc-css-3691780 small-12 columns small-12">
<div class="kc-col-container">
<div class="kc-elm kc-css-3831155 kc_text_block">
<p><strong id="post__summary" class="post__summary post__item mt-3">Đoàn trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên truyền Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Nguyễn Văn Cừ (09/07/1912 &#8211; 09/07/2022)</strong></p>
<p><b>II. Tiểu sử và quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Văn Cừ</b></p>
<p>Đồng chí Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 09 tháng 7 năm 1912, trong một gia đình nhà nho nghèo, có truyền thống khoa bảng ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.</p>
<p>Năm 1927, 15  tuổi học ở Trường Bưởi, đồng chí đã hăng hái tham gia các hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1928, đồng chí bị thực dân Pháp đuổi học vì tham gia hoạt động cách mạng. Về quê, Nguyễn Văn Cừ tiếp tục chắp nối liên lạc với các đồng chí trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, xây dựng cơ sở cách mạng ở địa phương. Cuối năm 1928, đồng chí được tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên giới thiệu về hoạt động <i>&#8220;vô sản hóa&#8221; </i>ở mỏ than Vàng Danh.</p>
<p>Năm 1929, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được kết nạp vào tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng. Năm 1930, đồng chí cùng với Nguyễn Đức Cảnh thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên ở Mạo Khê, sau đó phát triển tổ chức cơ sở đảng trên toàn vùng mỏ, thành lập Đặc khu uỷ mỏ, ra tờ báo <i>Than.</i></p>
<p>Ngày 15/2/1931, trên đường đi công tác Cẩm Phả &#8211; Hồng Gai, đồng chí bị thực dân Pháp bắt và đưa về giam ở Nhà tù Hoả Lò. Hội đồng đề hình Hà Nội xử đồng chí án <i>&#8220;phát lưu chung thân&#8221; </i>và đày ra Côn Đảo.</p>
<p>Năm 1936, do áp lực của các cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta và Mặt trận nhân dân Pháp, đồng chí Nguyễn Văn Cừ và một số tù chính trị Côn Đảo được trả tự do. Đồng chí về Hà Nội liên lạc với Đảng, lập ra <i>&#8220;Uỷ ban sáng kiến&#8221;.</i> Tháng 7/1937, đồng chí tham gia thành lập Xứ uỷ Bắc Kỳ, khôi phục các cơ sở đảng ở Bắc Kỳ &#8211; Trung Kỳ.</p>
<p>Tại Hội nghị Trung ương mở rộng tháng 9/1937, đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (3/1938), đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Nhằm đấu tranh chống bọn tờrốtxkít và tiến hành cuộc tự phê bình và phê bình trong Đảng, chấn chỉnh những tư tưởng lệch lạc, sai trái, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm <i>&#8220;Tự chỉ trích&#8221; </i>góp phần to lớn vào việc xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.</p>
<p>Tháng  09/1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo đưa Đảng rút vào hoạt động bí mật và tích cực chuẩn bị cho việc chuyển hướng chiến lược cách mạng.</p>
<p>Tháng 11/1939, trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 6, cùng Trung ương Đảng bàn và ra nghị quyết thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương, mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam &#8211; thời kỳ vận động giải phóng dân tộc.</p>
<p>Giữa lúc phong trào cách mạng của dân tộc đang bước vào cao trào mới thì ngày 18/1/1940, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị địch bắt. Ngày 28/8/1941, đồng chí bị quân thù xử bắn.</p>
<p>Với 29 tuổi đời, hơn mười ba năm tham gia cách mạng, bảy năm bị giam cầm trong nhà tù đế quốc, hơn hai năm làm Tổng Bí thư của Đảng, hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã có những cống hiến to lớn đối với Đảng và dân tộc ta. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ là một chiến sĩ cộng sản ưu tú, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam, người có tầm nhìn chiến lược, một tấm gương cao đẹp về đạo đức cách mạng.</p>
<p><i>Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (1912-1941)</i></p>
<p><b>II. Những cống hiến to lớn của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc</b></p>
<ol>
<li><b><i> Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ &#8211; chỉ đạo thay đổi chiến lược cách mạng, tạo ra bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam giai đoạn 1938 &#8211; 1942</i></b></li>
</ol>
<p>Đầu tháng 4/1938, chính phủ cánh hữu của Thủ tướng Đalađiê cầm quyền ở Pháp, thỏa hiệp với Hitle về vấn đề Tiệp Khắc, nguy cơ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới đến gần. Nhận thấy tình hình quốc tế đang có những chuyển biến bất lợi cho cách mạng Việt Nam và Đông Dương, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã sớm đặt vấn đề chuyển hướng chiến lược của Đảng. Đồng chí đã viết một loạt bài đăng trên báo Dân chúng, như: <i>&#8220;Chung quanh vấn đề Nhật chiếm Hải Nam&#8221;; &#8220;Cùng ông Nguyễn Văn Sâm chủ nhiệm báo Tự do&#8221;&#8230; </i>Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới, khu vực và trong nước, đồng chí đã chỉ rõ nguy cơ chiến tranh phát xít ở châu Á và Đông Dương, đồng thời kêu gọi nhân dân đẩy mạnh đấu tranh hơn nữa chống chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa phát xít. Để chuẩn bị cho Đảng rút vào hoạt động bí mật, đối phó với tình hình mới, trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí đã chỉ đạo cho phát hành cuốn &#8220;<i>Công tác bí mật của Đảng&#8221; </i>kịp thời gửi tới Đảng bộ các cấp. Đầu tháng 9/1939, đồng chí Nguyễn Văn Cừ triệu tập và chủ trì Hội nghị mở rộng Xứ ủy Bắc kỳ, phổ biến tình hình quốc tế, trong nước và quyết định phải rút ngay số cán bộ hoạt động công khai vào hoạt động bí mật, phân công một số đồng chí cán bộ Xứ ủy và Thành ủy Hà Nội đi xây dựng căn cứ ở các địa bàn chiến lược, chuẩn bị cơ sở cho cuộc đấu tranh vũ trang khi có điều kiện. Những chủ trương đúng đắn và nhạy bén của Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trước những diễn biến mau lẹ của tình thế cách mạng năm 1939 đã giảm bớt tổn thất cho Đảng, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta tiến lên.</p>
<p>Ngày 6/11/1939, chỉ hai tháng sau khi đại chiến thế giới II bùng nổ, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6, tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định). Hội nghị đã phân tích sâu sắc tính chất của chiến tranh thế giới II, vị trí của Đông Dương trong cuộc chiến tranh, những chính sách của đế quốc Pháp, thái độ các giai cấp xã hội và vạch ra đường lối chính trị của cách mạng Việt Nam trước tình hình mới. Hội nghị đã khẳng định: Chiến tranh sẽ gieo rắc đau thương cho nhân loại, nhưng cuối cùng sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới sẽ chiến thắng chủ nghĩa phát xít. Hội nghị cũng đã thống nhất nhận định: Lúc này ở Việt Nam và Đông Dương, sự thống trị của đế quốc Pháp đã trở thành một chế độ phát xít thuộc địa. Đế quốc Pháp đã thỏa hiệp đầu hàng phát xít Nhật. Do đó, giải phóng dân tộc khỏi ách đế quốc, dù là Pháp hay là Nhật, trở thành nhiệm vụ cấp bách nhất và là mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Việt Nam.</p>
<p>Trên cơ sở thống nhất những nhận định và xác định nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn cách mạng mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6 (11/1939) đã chủ trương: Tập trung mọi lực lượng của dân tộc vào chống đế quốc và ách thống trị của phát xít thuộc địa, Đảng sẽ tiến hành thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ không còn thích hợp nữa. Khẩu hiệu cách mạng ruộng đất lúc này tạm gác lại; chỉ thực hiện chính sách tịch thu ruộng đất của đế quốc và những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc. Khẩu hiệu thành lập chính quyền xô viết công, nông, binh được thay thế bằng khẩu hiệu thành lập chính quyền dân chủ cộng hòa. Để phù hợp với tính chất cuộc đấu tranh cách mạng trong giai đoạn mới, phương pháp cách mạng cũng chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai, từ hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và không hợp pháp, chuẩn bị điều kiện để tiến tới khởi nghĩa vũ trang.</p>
<p>Khi nhìn lại những diễn biến lịch sử đã qua chúng ta càng khâm phục quyết định chuyển hướng chiến lược và thay đổi phương pháp cách mạng trong tình hình mới của Đảng ta tại Hội nghị Trung ương 6 (11/1939) là hết sức sáng suốt, thể hiện tư duy chính trị nhạy bén, năng lực sáng tạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ. Tính kịp thời và đúng đắn về chủ trương chuyển hướng chiến lược của Hội nghị Trung ương 6, đã được Ban Thường vụ Trung ương khẳng định và đánh giá cao tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (11/1940) và Hội nghị Trung ương 8 (5/1941). Nhờ có sự chỉ đạo kịp thời của Đảng phong trào cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh mẽ theo chiều hướng mới, lực lượng cách mạng cũng tránh được tổn thất lớn khi kẻ địch trở mặt đàn áp. Giữa lúc phong trào vận động giải phóng dân tộc mới bắt đầu tiến triển thì đầu năm 1940, đồng chí Nguyễn Văn Cừ và một số đồng chí lãnh đạo cao cấp khác của Đảng đã bị bắt. Tuy nhiên, những nhận định và quyết định sáng suốt, kịp thời, những chủ trương nhạy bén và sáng tạo do Hội nghị Trung ương 5, 6 vạch ra dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ vẫn được Đảng và nhân dân ta thực hiện một cách sáng tạo, góp phần đưa đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám lịch sử.</p>
<ol start="2">
<li><b><i> Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ &#8211; nhà lý luận xuất sắc của Đảng</i></b></li>
</ol>
<p>Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là cán bộ lãnh đạo có năng lực tư duy lý luận sắc bén. Dù chưa một lần ra nước ngoài, chưa gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và cũng chưa dự một lớp huấn luyện chính quy của Đảng, nhưng đồng chí tỏ rõ khả năng lý luận xuất sắc. Dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trong giai đoạn cách mạng 1939 &#8211; 1940 nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đã được giải quyết một cách sáng tạo, nhuần nhuyễn, phù hợp với quy luật vận động khách quan.</p>
<p>Sáng kiến vận động thành lập Mặt trận thống nhất dân chủ của đồng chí Nguyễn Văn Cừ trình bày tại Hội nghị Trung ương 5, tháng 3/1938, được coi là một bước đột phá trên cả phương diện lý luận và thực tiễn cách mạng. Từ sự phân tích khoa học, Đảng ta quyết định không áp dụng mô hình <i>&#8220;Mặt trận bình dân&#8221;</i> theo kiểu của Cộng hòa Pháp, không vận dụng mô hình <i>&#8220;Mặt trận dân tộc phản đế&#8221;</i> của Trung Quốc, mà thành lập <i>Mặt trận thống nhất nhân dân Đông Dương </i>để đoàn kết giai cấp công nhân, nông dân, thu hút được đội ngũ trí thức và các lực lượng theo xu hướng cải cách, dân chủ khác. Để làm rõ và thống nhất trong toàn Đảng về quan điểm này, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm <i>&#8220;Các quyền tự do dân chủ với nhân dân Đông Dương&#8221;,</i> trong đó đưa ra và giải thích một cách khoa học nhiều khái niệm và phạm trù mang tính lý luận như: <i>&#8220;Thế nào gọi là tự do dân chủ ?&#8221;, &#8220;Tự do dân chủ với dân tộc&#8221;, &#8220;Tự do dân chủ với giai cấp tư sản&#8221;, &#8220;Tự do dân chủ với giai cấp vô sản&#8221;&#8230; </i>để rồi đi đến kết luận rằng: <i>&#8220;Xứ Đông Dương hàng thế kỷ dưới chế độ phong kiến, rồi kế đến chế độ thuộc địa áp bức. chính sách thuộc địa câu kết với tàn tích phong kiến để thống trị xứ Đông Dương, nên cư dân xứ này chưa được hưởng cái mùi tự do dân chủ của hiện đại, cho nên nhân dân Đông Dương muốn có tự do dân chủ thì phải đấu tranh&#8221;<sup>2</sup>. </i>Nhưng đấu tranh bằng hình thức nào, đồng chí Nguyễn Văn Cừ khẳng định: <i>&#8220;Căn cứ theo tình hình cụ thể đó, chúng ta có thể dùng phương pháp tranh đấu có tính chất hòa bình &#8211; là chính sách lập mặt trận dân chủ thống nhất Đông Dương để thực hiện những điều yêu cầu ấy&#8221;<sup>3</sup>. </i>Tác phẩm: <i>&#8220;Các quyền tự do dân chủ của nhân dân Đông Dương&#8221; </i>của đồng chí đã luận giải được nhiều vấn đề lý luận cơ bản để trên cơ sở đó Đảng ta đua ra những quyết sách chiến lược, sách lược trong thời kỳ Mặt trận thống nhất dân chủ.</p>
<p>Năm 1939, chủ nghĩa phát xít đe dọa tiến hành chiến tranh thế giới, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương lăm le trở mặt đàn áp phong trào dân chủ, một số phần tử tờrốtkít giả danh cách mạng cũng ra sức chống phá cộng sản. Trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo tiến hành một cuộc đấu tranh sâu rộng trên mặt trận lý luận. Trước hết là đấu tranh vạch rõ chân tướng của bọn trốtxkít với giọng điệu <i>&#8220;cách mạng đầu lưỡi&#8221; </i>của chúng, chỉ ra nguyên tắc liên hiệp giữa Đảng Cộng sản với các đảng phái khác: <i>&#8220;Sự liên hệ phải có nguyên tắc, chứ không phải liên hiệp với cả bọn phản động, bọn khiêu khích tơrốtkit, tay chân phát xít&#8221;<sup>4</sup>; </i>đối với bọn này: &#8220;<i>Không</i> <i>thể có thỏa hiệp nào, nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít,</i> <i>phải tiêu diệt chúng về chính trị&#8221;<sup>5</sup>.</i></p>
<p>Trên phương diện đấu tranh củng cố nội bộ, tháng 6/l939, với bút danh Trí Cường, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết và cho in cuốn <i>&#8220;Tự chỉ trích&#8221;. </i>Đây là một đóng góp quan trọng của đồng chí Nguyễn Văn Cừ vào công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Lần đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, một đồng chí lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng đã viết công khai: <i>&#8220;Những người cộng sản có bổn phận nói sự thật cho quần chúng, dẫn đường cho quần chúng chớ không phải theo đuôi hay phỉnh phờ họ&#8221;<sup>6</sup></i>. Và dù có sai lầm, có thất bại thì <i>&#8220;phải có can đảm mở to mắt ra nhìn sự thật&#8221;<sup>7</sup>. </i>Phê phán những khuynh hướng sai lầm &#8220;thiên tả&#8221;, hoặc <i>&#8220;thiên hữu&#8221;</i> của một số cán bộ, đảng viên. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ yêu cầu Đảng phải <i>&#8220;công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những lỗi lầm của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu, thỏa hiệp, như thế không phải làm yếu Đảng mà làm cho Đảng được thống nhất mạnh mẽ&#8221;<sup>8</sup>.</i></p>
<p>Tác phẩm <i>&#8220;Tự chỉ trích&#8221;</i> ra đời cách đây hơn bảy mươi năm, do một người cộng sản Việt Nam chỉ được học tập lý luận chủ yếu ở trong nhà tù đế quốc nhưng bằng thực tiễn hoạt động phong phú của mình, tác giả đã khái quát được những vấn đề tư tưởng lý luận hết sức sâu sắc mang tính thời đại cho đến nay vẫn còn giá trị thời sự. Tác phẩm &#8220;<i>Tự chỉ trích&#8221;</i> đã thể hiện sự minh triết trong tư duy chính trị của một nhà lãnh đạo giàu kinh nghiệm, tài năng xuất sắc, đồng thời thể hiện trí tuệ sáng ngời của Đảng ta trong việc làm giàu thêm kho tàng lý luận học thuyết Mác &#8211; Lênin.</p>
<ol start="3">
<li><b><i> Đồng chí Nguyễn Văn Cừ &#8211; một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng và tinh thần tự học tập, rèn luyện, trưởng thành qua thực tiễn đấu tranh cách mạng</i></b></li>
</ol>
<p>3.1. Một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng</p>
<p>Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, cho lý tưởng cao đẹp của Đảng ta. Toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là một mẫu mực về phẩm chất cao quý của người cộng sản.</p>
<p>Với tinh thần say sưa học tập, rèn luyện và vươn lên không ngừng, từ lúc còn là học sinh bước vào hoạt động cách mạng cho đến khi trở về cõi vĩnh hằng, dù không được đi học ở trường lớp lý luận chính trị nào, nhưng bằng niềm tin, nghị lực biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã tự trang bị cho mình những hiểu biết sâu rộng về khoa học chính trị, trở thành Tổng Bí thư &#8211; cán bộ lãnh đạo cao nhất của Đảng.</p>
<p>Đồng chí đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế với lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác &#8211; Lênin, tư tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, góp phần cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng giải quyết đúng đắn những yêu cầu của cách mạng Việt Nam và Đông Dương đề ra. Trong hoàn cảnh khẩn trương phức tạp thời kỳ vận động dân chủ (1936-1939), Đảng ta gặp nhiều trở lực và khó khăn: Kẻ thù luôn luôn tìm cách đàn áp, bọn trốtxkít khiêu khích phá hoại, một số cán bộ, đảng viên của Đảng bộc lộ những khuynh hướng sai lầm tả khuynh và hữu khuynh trong việc thực hiện chiến lược, sách lược cách mạng, mắc sai lầm trong nhận thức&#8230; Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đoàn kết một lòng tạo nên một cao trào cách mạng sôi nổi, hàng triệu quần chúng đã giác ngộ theo Đảng làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đập tan chế độ thực dân phong kiến, xây dựng Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Thành công đó có cống hiến trí tuệ và sức lực vô cùng to lớn của toàn Đảng, của các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng, như: Đồng chí Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ<i>&#8230;</i></p>
<p>Không chỉ có tinh thần tự học tập, rèn luyện trong thực tiễn, đồng chí Nguyễn Văn Cừ còn là tấm gương sáng về sự liên hệ với quần chúng, tin tưởng và gắn bó máu thịt với quần chúng, coi trọng công tác vận động quần chúng. Bất kỳ ở đâu, sống giữa những người bạn phu mỏ vùng Đông Bắc, hay bạn tù Côn Đảo, dù là đảng viên hay lúc đã giữ cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ luôn thể hiện là người cán bộ có đạo đức cách mạng trong sáng, chân thành, giản dị, gương mẫu trong cuộc sống, có tác phong chan hoà, gần gũi với mọi người, có khả năng tập hợp, đoàn kết, được cán bộ, đảng viên và nhân dân mến yêu và cảm phục.</p>
<p>Đồng chí Nguyễn Văn Cừ có năng lực tư duy lý luận sáng tạo, nắm bắt thực tiễn nhanh nhạy, khả năng thuyết phục, cảm hoá mạnh mẽ, nêu tấm gương sáng về tinh thần tự phê bình trong Đảng. Với kẻ thù và những phần tử phản động, phần tử Trốxkít mưu toan chia rẽ, phá hoại Đảng, đồng chí kiên quyết đấu tranh bác bỏ, không khoan nhượng. Với những sai lầm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên, đồng chí Nguyễn Văn Cừ luôn nhỏ nhẹ, chân thành, trao đổi thường xuyên, có lý, có tình góp phần quan trọng vào việc củng cố sự đoàn kết trong Đảng, chống suy thoái, biến chất về tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam tiến lên.</p>
<p>Ở độ tuổi 26, với đức độ và tài năng xuất sắc, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được Hội nghị Trung ương 5 (tháng 3-1938) bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đánh giá về đồng chí: <i>Về tuổi đời, anh Cừ kém chúng tôi và các anh Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập từ 5 đến 10 tuổi, nhưng anh là một trí tuệ lỗi lạc của Đảng, rất sắc sảo và nhạy bén về chính trị, lại có khả năng đoàn kết, thuyết phục anh em. Anh là một người cộng sản có phẩm chất đạo đức rất trong sáng, được mọi người kính phục.</i></p>
<p>Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ là một người cộng sản mẫu mực, là niềm tự hào của Đảng ta và dân tộc ta.</p>
<p><b>3.2. Một tấm gương tiêu biểu về tinh thần tự học tập, rèn luyện và trưởng thành qua thực tiễn đấu tranh cách mạng</b></p>
<p>Đồng chí Nguyễn Văn Cừ tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm. Xuất thân từ một học sinh, 15 tuổi với nhiệt huyết của tuổi trẻ, thông qua phong trào đấu tranh yêu nước, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã giác ngộ chủ nghĩa Mác &#8211; Lênin. Thực hiện chủ trương <i>&#8220;vô sản hoá&#8221; </i>của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở vùng mỏ Đông Bắc (từ 1928 &#8211; 1930) đồng chí đã hoà mình vào cuộc sống của người lao động, sớm nhận thức về khả năng cách mạng to lớn của giai cấp công nhân Việt Nam. Với tinh thần quyết tâm cách mạng, đồng chí đã tổ chức nhiều cuộc mít tinh kêu gọi công nhân lao động mỏ đứng lên làm cách mạng để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Tờ báo <i>Than </i>do đồng chí Nguyễn Văn Cừ trực tiếp chỉ đạo và là người biên tập chính, tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lênin đã được phát hành rộng rãi ở Mạo Khê và vùng mỏ Đông Bắc. Ngay từ những số đầu tiên, tờ báo <i>Than </i>đã động viên, cổ vũ và hướng dẫn quần chúng đứng lên đấu tranh chống chế độ áp bức bất công của thực dân Pháp, ủng hộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.</p>
<p>Đồng chí có điều kiện đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều công nhân, lao động nhiều nghề khác nhau, qua đó có dịp phân tích và kịp thời chỉ ra những ưu điểm và uốn nắn những lệch lạc trong công tác vận động công nhân, nhờ đó phong trào cách mạng ở vùng than có bước chuyển biến và phát triển nhanh chóng. Đầu năm 1930, đồng chí đã cùng với đồng chí Nguyễn Đức Cảnh thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương ở Mạo Khê và chỉ đạo thành lập các đảng bộ ở mỏ Uông Bí, Cửa Ông, Cẩm Phả&#8230; Từ một học sinh tiểu tư sản, hoà mình gắn bó với đời sống gian khổ của thợ mỏ, kết hợp với việc tích cực tự rèn luyện và học tập lý luận cách mạng, sau hơn 2 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã trở thành một trong những người đầu tiên xây dựng các chi bộ đảng và Đặc khu ủy đảng ở vùng mỏ, một cán bộ lãnh đạo chủ chốt của phong trào công nhân vùng than Đông Bắc.</p>
<p>Khi bị địch bắt, bị giam cầm tra tấn tại nhà tù Côn Đảo (từ 1931 &#8211; 1936), đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã cùng với các đồng chí cán bộ trung kiên của Đảng biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng. Tại nhà tù Côn Đảo, đồng chí đã được nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác &#8211; Lênin, như: &#8220;<i>Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản&#8221;</i>, &#8220;<i>Hai sách lược</i> <i>của Đảng&#8221;, &#8220;Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào công nhân&#8221;, &#8220;Nguyên lý chủ nghĩa Mác </i>– <i>Lênin&#8221;&#8230;. </i>Thông qua việc trao đổi trực tiếp với các đồng chí bạn tù, kết hợp với thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú của mình, đồng chí đã nhận thức và hiểu sâu sắc nhiều vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác &#8211; Lênin và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Chính trong những năm tháng bị giam cầm ở Côn Đảo, đồng chí đã tích lũy, trau dồi về chủ nghĩa Mác &#8211; Lênin, tư tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soi rọi vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, rút ra những bài học cách mạng quý báu. Con đường nhận thức biện chứng mà đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã trải qua để trở thành nhà lãnh đạo, nhà lý luận trẻ tuổi xuất sắc của Đảng gian khổ, oanh liệt và rất đỗi vẻ vang.</p>
<p>Tinh thần quốc tế vô sản đã thể hiện rõ nét ngay từ những năm 30 khi trở thành đảng viên cộng sản, đồng chí Nguyễn Văn Cừ có nhiều bài viết sâu sắc kêu gọi những người cộng sản và các tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam ủng hộ cách mạng Trung Quốc, Liên Xô, như: <i>&#8220;Giúp Tàu (Trung Quốc) là nhiệm vụ của hết thảy mọi người yêu mến tự do và hòa bình. Giúp Tàu là một bộ phận trong việc phòng thủ Đông Dương&#8221;<sup>1</sup>; </i>ủng hộ Liên Xô vào Hội Quốc liên, vận động giúp cách mạng Trung Quốc kháng Nhật v.v&#8230; Những bài viết này thể hiện khả năng khái quát cao, tư duy độc lập và biện chứng về mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam, cách mạng Đông Dương với cách mạng thế giới, những vấn đề cách mạng nóng bỏng trong nước và quốc tế, khẳng định tài năng chính trị của một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và dân tộc ta.</p>
<p><b>III. Học tập quan điểm tự phê bình và phê bình Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trong tác phẩm &#8220;Tự chỉ trích&#8221; để thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW</b></p>
<p>Kỷ niệm 109 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trong lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) <i>“Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện &#8220;tự diễn biến&#8221;, &#8220;tự chuyển hóa&#8221; trong nội bộ”</i> gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “<i>Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh</i>”; tổ chức các hoạt động tuyên tuyền kỷ niệm 109 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ là một hình thức sinh hoạt chính trị có ý nghĩa đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhằm tôn vinh và khẳng định những cống hiến lớn lao của đồng chí Nguyễn Văn Cừ đối với Đảng, dân tộc ta; thiết thực bồi dưỡng truyền thống cách mạng, giáo dục tư tưởng và đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ.</p>
<p>Trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) mỗi cán bộ, đảng viên cần học tập quan điểm tự phê bình và phê bình trong Đảng của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ: &#8220;<i>Công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những nhầm lỗi của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu, thỏa hiệp, như thế không phải làm yếu Đảng, mà là làm cho Đảng được thống nhất, mạnh mẽ</i>&#8220;.</p>
<p>Học tập một số nguyên tắc và mục tiêu trong tự phê bình và phê bình của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ: &#8220;<i>Chúng ta không bao giờ có thể đổ hết những nguyên nhân thất bại cho việc quân thù đàn áp. Chúng ta phải biết nhìn nhận những khuyết điểm về chủ quan mà chính ta gây ra, chính ta phải hoàn toàn chịu trách nhiệm&#8221;.</i></p>
<p> &#8220;Tự chỉ trích bônsơvích là để giúp đảng viên tự huấn luyện, để làm tăng uy tín và ảnh hưởng của Đảng, để cho Đảng ngày càng được thống nhất và củng cố, để đưa phong trào phát triển lên, đưa cách mạng tới thắng lợi, chớ không phải đặt cá nhân mình lên trên Đảng, đem ý kiến riêng &#8211; dù cho đúng &#8211; đối chọi với Đảng, vin vào một vài khuyết điểm mà mạt sát Đảng, phá hoại ảnh hưởng của Đảng, gieo mối hoài nghi, lộn xộn trong quần chúng, gây mầm phái chia rẽ trong hàng ngũ Đảng&#8221;.</p>
<p>&#8220;Phải cần làm cho các đảng viên giác ngộ, rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của mình, biết xoay phương hướng trong những hoàn cảnh khó khăn, nghiêm trọng, biết tự chỉ trích đúng và kịp thời những khuyết điểm, sai lầm; đồng thời Đảng phải tìm cách củ soát một cách thiệt sự hơn những hành động của mỗi đảng viên&#8221;.</p>
<p>&#8220;Chiến thắng những xu hướng sai lầm trong hàng ngũ: Xu hướng &#8220;Tả khuynh&#8221;, cô độc nó muốn làm cho Đảng co bé, rút hẹp bởi biệt phái, cách xa quần chúng, và xu hướng thỏa hiệp hữu khuynh, lung lay trước những tình hình nghiêm trọng nhãng quên hoặc che lấp sự tuyên truyền chủ nghĩa Mác &#8211; Lênin, lăm le rời bỏ những nguyên tắc cách mệnh&#8221;.</p>
<p> &#8220;Thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động&#8221;.</p>
<p> &#8220;Củng cố hàng ngũ để chóng thực hiện thống nhất các lớp nhân dân&#8221;.</p>
<ol>
<li><b> Noi gương Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ, cán bộ, viên chức, người lao động Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao </b></li>
</ol>
<p>Noi gương đồng chí Nguyễn Văn Cừ, mỗi cán bộ, viên chức, người lao động  Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ đoàn kết, phấn đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau:</p>
<p><i>Thứ nhất</i>, tiếp tục quán triệt các quan điểm của Trung ương về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trong đó, chú trọng đến việc vận dụng tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII vào giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; tiếp tục tuyên truyền, quán triệt và thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác &#8211; Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.</p>
<p> <i>Thứ hai</i>, Tiếp tục tuyên truyền thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng, các quy định của Trung ương và của tỉnh về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp; Quyết định số 5029/QĐ-HVCTQG ngày 26/10/2017 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành Quy định về ứng xử văn hóa của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Kế hoạch số 311/KH-UBND ngày 27/8/2019 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh về việc ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Bắc Ninh thi đua thực hiện văn hóa công sở” giai đoạn 2019-2025. Xây dựng Đảng bộ và Trường hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm.</p>
<p><i>Thứ ba</i>, tiếp tục rà soát, chỉnh sửa, bổ sung hệ thống các quy chế, quy định. Trước mắt, tiến hành bổ sung hệ thống các nội quy trong cơ quan; quy chế quản lý và sử dụng tài sản công, quy chế chi tiêu nội bộ; quy định đào tạo và bồi dưỡng cán bộ</p>
<p><i>Thứ tư</i>, tiếp tục quan tâm đến công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức. Trong đó, Trường tiếp tục cử cán bộ, giảng viên tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị; kiến thức kinh điển về Chủ nghĩa Mác &#8211; Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, giảng viên chuẩn bị các điều kiện để sẵn sàng đáp ứng tiêu chuẩn xét chuyển ngạch nhất là đối với giảng viên. Phấn đấu đến trước năm 2025, Trường hoàn thành các tiêu chí Trường chính trị chuẩn đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên.</p>
<p><i>Thứ năm</i>, tiếp tục thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo, bồi dưỡng theo quy định. Tăng cường phối hợp tuyển sinh đào tạo các lớp Trung cấp LLCT theo hình thức tập trung; các lớp bồi dưỡng theo ngạch bậc và vị trí việc làm, đảm bảo tỷ lệ theo quy định về Trường Chính trị chuẩn. Tập trung nâng cao chất lượng các khâu của quá trình đào tạo, bồi dưỡng. Đổi mới và nâng cao chất lượng giảng dạy: tăng cường đổi mới phương pháp giảng dạy gắn với ứng dụng công nghệ hiện đại. Quản lý chặt chẽ và có hiệu quả đối với quá trình học tập, rèn luyện của học viên. Tổ chức tốt việc đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học viên. Phấn đấu đến năm 2025, Trường hoàn thành các tiêu chí Trường chính trị chuẩn Mức 1 về đào tạo, bồi dưỡng.</p>
<p><i>Thứ sáu</i>, tiếp tục đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các hoạt động khoa học: tăng cường tổ chức Hội thảo cấp tỉnh, tọa đàm khoa học cấp trường, cấp tỉnh. Cán bộ, giảng viên chủ động hơn nữa trong công tác nghiên cứu khoa học, nhất là các hoạt động tổng kết thực tiễn ở địa phương. Chủ động phối hợp, đề xuất thực hiện các đề tài khoa học cấp tỉnh và tham gia các hoạt động khoa học khác của tỉnh. Trường sẽ tiếp tục duy trì phát hành 3 số nội san “Lý luận và thực tiễn”/năm; đồng thời tăng cường việc xuất bản sách phục vụ nghiên cứu và giảng dạy. Phấn đấu đến năm 2025, hoàn thành các tiêu chí Trường Chính trị chuẩn Mức 1 về hoạt động khoa học.</p>
<p><i>Thứ bảy,</i> Quản lý và khai thác tốt hệ thống cơ sở vật chất và các phương tiện kỹ thuật của Trường để phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng và các hoạt động khác của tỉnh khi được trưng tập. Xây dựng Đề án về khai thác, quản lý và sử dụng tài sản công để khai thác, sử dụng công trình nhà Lớp học, bảo đảm bù đắp một phần kinh phí duy trì, bảo dưỡng các thiết bị phục vụ. Nâng cấp hệ thống mạng internet để phục vụ tốt hơn cho hoạt động chung của Trường, nhất là công tác truy cập thông tin phục vụ nghiên cứu, giảng dạy; đào tạo theo hình thức trực tuyến…Tiếp tục duy trì công tác tài chính đảm bảo theo đúng các quy định./.</p>
<p><!-- /wp:paragraph --></p>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-nguyen-van-cu/">Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Nguyễn Văn Cừ (09/07/1912 – 09/07/2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-nguyen-van-cu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Võ Văn Kiệt (23/11/1922 – 23/11/2022)</title>
		<link>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-100-nam-ngay-sinh-dong-chi-vo-van-kiet/</link>
					<comments>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-100-nam-ngay-sinh-dong-chi-vo-van-kiet/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đoàn Thanh niên]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 05 Jun 2022 16:54:43 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[myaloha]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://hiu.vn/?p=58929</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-100-nam-ngay-sinh-dong-chi-vo-van-kiet/">Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Võ Văn Kiệt (23/11/1922 – 23/11/2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<style type="text/css"></style>
<div class="kc-elm kc-css-564200 kc-row-container module">
<div class="wc-row row">
<div class="kc-wrap-columns">
<div class="kc-elm kc-css-3109253 small-12 columns small-12">
<div class="kc-col-container">
<div class="kc-elm kc-css-3069479 kc_text_block">
<p class="has-text-align-left"><strong id="post__summary" class="post__summary post__item mt-3">Đoàn trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên truyền Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Võ Văn Kiệt </strong><span style="font-weight: 600; font-style: inherit;">(23/11/1922 &#8211; 23/11/2022)</span><strong class="post__summary post__item mt-3" style="font-style: inherit;">.</strong></p>
<p class="has-text-align-left"><strong class="post__summary post__item mt-3" style="font-style: inherit;"> </strong></p>
<div id="post__content" class="post__content post__item mt-2">
<ol>
<li><strong>KHÁI LƯỢC TIỂU SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ VÕ VĂN KIỆT</strong></li>
</ol>
<p>Đồng chí Võ Văn Kiệt tên thật là Phan Văn Hòa, bí danh Sáu Dân, sinh ngày 23/11/1922 tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình nông dân nghèo. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống văn hiến, yêu nước, đấu tranh chống áp bức cường quyền, nên khi tuổi đời còn rất trẻ, Đồng chí đã sớm hình thành tư tưởng yêu nước, giác ngộ cách mạng.</p>
<p>Năm 1938, khi mới 16 tuổi, Võ Văn Kiệt đã tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào Thanh niên phản đế. Tháng 11/1939, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; tháng 11/1940, được cử làm Bí thư Chi bộ xã Trung Hiệp, Huyện ủy viên huyện Vũng Liêm và tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Sau Khởi nghĩa Nam Kỳ, Đồng chí được điều động về hoạt động tại vùng U Minh thuộc tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang).</p>
<p>Từ năm 1941 &#8211; 1945, trên cương vị Tỉnh ủy viên tỉnh Rạch Giá, Đồng chí đã tham gia xây dựng lực lượng cách mạng, bảo vệ căn cứ địa U Minh trở thành đầu não chỉ huy cách mạng của các tỉnh miền Tây Nam Bộ, góp phần vào thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.</p>
<p>Sau ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, đồng chí Võ Văn Kiệt được cử làm Ủy viên Chính trị dân quân cách mạng Liên tỉnh Tây Nam Bộ, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Rạch Giá, rồi Phó Bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá, tham gia lãnh đạo Nhân dân các tỉnh miền Tây Nam Bộ: Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau&#8230; tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.</p>
<p>Giữa năm 1949, Đồng chí được điều về làm Phó Bí thư, rồi Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu, trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến đấu của đồng bào, góp phần tích cực vào thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Nhân dân ta.</p>
<p>Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), Đồng chí được phân công bí mật ở lại miền Nam, hoạt động tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, vùng cực Nam của Tổ quốc. Năm 1955, Đồng chí được bầu làm Ủy viên dự khuyết Xứ ủy Nam Bộ, Phó Bí thư Liên Tỉnh ủy miền Tây, sát cánh bên cạnh đồng chí Lê Duẩn, góp phần xây dựng Đề cương cách mạng miền Nam. Năm 1959, Đồng chí được điều về Khu Sài Gòn &#8211; Gia Định (T.4), làm Bí thư Khu ủy.</p>
<p>Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Đồng chí được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng; là Ủy viên Trung ương Cục miền Nam; tiếp tục làm Bí thư Khu ủy T.4 (Sài Gòn &#8211; Gia Định) cho đến cuối năm 1969, rồi Bí thư Khu ủy Khu 9 (Tây Nam Bộ), Bí thư Quân khu ủy Quân khu 9 đến năm 1973. Năm 1972, Đồng chí được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng.</p>
<p>Từ năm 1973 &#8211; 1975, đồng chí Võ Văn Kiệt được điều về công tác ở Trung ương Cục, trên cương vị là Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam.</p>
<p>Trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn, Đồng chí được Trung ương Cục phân công làm Ủy viên Ban cán sự Đảng ủy đặc biệt của Chiến dịch Hồ Chí Minh và Bí thư Ủy ban Quân quản Thành phố.</p>
<p>Sau ngày Tổ quốc thống nhất, Đồng chí được phân công làm Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.</p>
<p>Năm 1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí Võ Văn Kiệt được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung Trung ương và được bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị và được phân công làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 3/1982, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, Đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị; tháng 4/1982, được Quốc hội phê chuẩn làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.</p>
<p>Tháng 12/1986, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí Võ Văn Kiệt được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị. Kỳ họp thứ nhất (Quốc hội khóa VIII), Đồng chí được bầu lại làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.</p>
<p>Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991), đồng chí Võ Văn Kiệt tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị. Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VIII, Đồng chí được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Đến kỳ họp thứ chín Quốc hội khóa VIII (tháng 8/1991), Đồng chí được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IX (tháng 10/1992) đồng chí Võ Văn Kiệt được bầu làm Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh cho đến năm 1997.</p>
<p>Tháng 6/1996, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, đồng chí Võ Văn Kiệt tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị và được cử làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị.</p>
<p>Từ tháng 12/1997 &#8211; 4/2001, do tuổi cao, Đồng chí xin rút khỏi Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và được Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.</p>
<p>Đồng chí là Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII và IX.</p>
<p>Đồng chí từ trần vào lúc 7 giờ 40 phút ngày 11/6/2008, hưởng thọ 86 tuổi.</p>
<p>Do công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, uy tín lớn trong và ngoài nước, đồng chí Võ Văn Kiệt đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác. Cuộc đời Đồng chí là tấm gương sáng để đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước yêu quý, kính trọng và mãi mãi noi theo.</p>
<ol>
<li><strong> NHỮNG CỐNG HIẾN TO LỚN, QUAN TRỌNG CỦA ĐỒNG CHÍ VÕ VĂN KIỆT ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ DÂN TỘC</strong></li>
<li><strong> Nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta</strong></li>
</ol>
<p>Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Võ Văn Kiệt gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng hào hùng của Đảng và dân tộc ta. Thời thơ ấu và niên thiếu vất vả, bươn trải đã hun đúc ý chí giải phóng dân tộc, bản lĩnh của Võ Văn Kiệt. Khi 16 tuổi, Đồng chí đã giác ngộ cách mạng, tham gia phong trào Thanh niên phản đế và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương khi mới 17 tuổi.</p>
<p>Khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, ở tuổi 18, Đồng chí được giao làm Bí thư Chi bộ xã Trung Hiệp, Huyện ủy viên huyện Vũng Liêm, lãnh đạo Nhân dân nổi dậy cướp chính quyền ở huyện lỵ Vũng Liêm. Tuy khởi nghĩa thất bại nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng, Đồng chí đã bắt đầu bộc lộ tư chất của một tài năng lớn.</p>
<p>Trên cương vị Tỉnh ủy viên lâm thời tỉnh Rạch Giá, Đồng chí thường xuyên bám địa bàn, bám đất, bám dân, nhiều lần đối mặt với cái chết trong gang tấc, xây dựng cơ sở cách mạng, huấn luyện lực lượng quân sự, mở rộng và phát triển căn cứ địa U Minh trở thành đầu não chỉ huy kháng chiến của các tỉnh miền Tây Nam Bộ, góp phần cùng các địa phương trong cả nước làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.</p>
<p>Khi thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ, trên cương vị Ủy viên Chính trị dân quân cách mạng Liên tỉnh miền Tây, đồng chí Võ Văn Kiệt được phân công trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở các tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu. Dấu chân của Đồng chí đã in khắp các chiến trường miền Tây Nam Bộ. Bằng trí tuệ, hoạt động chỉ đạo của mình, Đồng chí đã góp phần tích cực vào thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Nhân dân ta.</p>
<p>Sau Hiệp định Giơnevơ (7/1954), đồng chí Võ Văn Kiệt được Đảng phân công bí mật ở lại miền Nam, hoạt động bên cạnh đồng chí Lê Duẩn &#8211; Bí thư Xứ ủy, tiếp tục chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam. Trong tình thế khó khăn của cách mạng miền Nam khi đó, đồng chí Võ Văn Kiệt đã thể hiện bản lĩnh vững vàng, bám sát địa bàn, chỉ đạo cơ sở đấu tranh với kẻ thù. Với sự nhạy cảm của một nhà hoạt động cách mạng lão luyện, Đồng chí có những nhận định hết sức đúng đắn về âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, kịp thời đề ra những đối sách, chỉ đạo phong trào cách mạng.</p>
<p>Xuất phát từ thực tiễn nóng bỏng của cách mạng miền Nam, nắm bắt yêu cầu, nguyện vọng đấu tranh của quần chúng, đồng chí Võ Văn Kiệt đã có những ý kiến đề xuất với đồng chí Lê Duẩn, góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho bản Đề cương cách mạng miền Nam, để từ đó Đảng ta nghiên cứu, hoàn thiện cho ra đời Nghị quyết 15 lịch sử, thổi bùng lên phong trào Đồng khởi, tạo bước ngoặt quan trọng của cách mạng miền Nam.</p>
<p>Từ cuối năm 1959 đến đầu năm 1970, dưới sự chỉ đạo của Khu ủy T.4, đứng đầu là Bí thư Võ Văn Kiệt, quân và dân Sài Gòn &#8211; Gia Định đã anh dũng chiến đấu lập nhiều chiến công vang dội; góp phần vào thắng lợi chung của Nhân dân cả nước, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán và ký Hiệp định Paris (1/1973), rút quân đội ra khỏi miền Nam, tạo ra cục diện mới cho cách mạng miền Nam.</p>
<p>Sau Hiệp định Paris, trên cương vị là Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam, Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu 9, đồng chí Võ Văn Kiệt đã chỉ đạo Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu đưa ra những quyết định mang tính lịch sử “Đánh địch lấn chiếm, giữ đất giữ dân”; không chấp nhận ngừng bắn khi chính quyền Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định Paris; kiên quyết, chủ động và liên tục tiến công địch trên các mặt trận, cả nông thôn và thành thị. Với quyết định đúng đắn và rất sáng tạo đó, chỉ trong thời gian ngắn, quân và dân Khu 9 đã làm thất bại âm mưu lấn chiếm của địch, mở rộng thêm nhiều vùng giải phóng, tạo nên thế và lực mới rất quan trọng, là một trong những cơ sở để Đảng ta đưa ra quyết định phát động cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.</p>
<p>Mùa Xuân năm 1975, trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn, trên cương vị Ủy viên Đảng ủy đặc biệt của Chiến dịch Hồ Chí Minh, Đồng chí đã cùng Bộ Tư lệnh chiến dịch, chỉ huy năm cánh quân thần tốc tiến vào thành phố, phối hợp với sự nổi dậy của Nhân dân, buộc chính quyền Sài Gòn phải đầu hàng vô điều kiện, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.</p>
<p>Sau ngày đất nước thống nhất, trên cương vị Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh rồi Bí thư Thành ủy, Đồng chí đã cùng lãnh đạo Thành phố đưa ra những quyết sách hết sức năng động, phù hợp với tình hình thực tiễn, từng bước tháo gỡ khó khăn, đưa Thành phố dần đi vào ổn định để rồi sau đó trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước. Đã có lúc người ta đặt cho đồng chí Võ Văn Kiệt nhiều cái tên như “Chủ tịch gạo”, “Bí thư phá rào” để thấy những quyết định của Đồng chí không rập khuôn, giáo điều, thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo, năng động, bám sát yêu cầu của thực tiễn cách mạng, có tầm ảnh hưởng lớn đối với đất nước, với Nhân dân.</p>
<p>Sau này, trên các cương vị Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao phó. Xuất phát từ tấm lòng vì nước, vì dân, trước khi đưa ra một quyết định quan trọng nào, đặc biệt là những quyết định có tác động, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế đất nước và đời sống Nhân dân, Đồng chí đều chú trọng tập hợp và lắng nghe các chuyên gia, nhà khoa học và tự mình bỏ nhiều công sức nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm tích lũy từ cuộc sống của mọi tầng lớp Nhân dân. Chính vì vậy, khi vận dụng vào chỉ đạo thực tiễn, những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã nhận được sự đồng thuận “ý Đảng, lòng dân”; phát huy hiệu quả, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.</p>
<p>Với tính cách nổi bật là sâu sát thực tế, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, sẵn sàng dấn thân cho cái mới, đồng chí Võ Văn Kiệt đã động viên được nhiều lực lượng xã hội tham gia vào công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc của Đảng và Nhà nước. Đồng chí đã có nhiều đóng góp về lý luận và thực tiễn để xóa bỏ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới đất nước. Đồng chí Võ Văn Kiệt có những quyết định táo bạo và là người chỉ đạo thực hiện nhiều dự án quan trọng như: Thủy điện Trị An; công trình thủy lợi đào kênh T5 đưa nước lũ thoát ra biển Tây; khai phá Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên, ngọt hóa bán đảo Cà Mau; công trình đường dây tải điện 500KV Bắc &#8211; Nam; đường Bắc Thăng Long &#8211; Nội Bài; đường Hồ Chí Minh; Nhà máy lọc dầu Dung Quất và phát triển ngành dầu khí, viễn thông, hàng không, xây dựng các khu công nghệ cao Hòa Lạc; công viên phần mềm Quang Trung; Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam&#8230; Tất cả nói lên tâm huyết và những nỗ lực phi thường của đồng chí Võ Văn Kiệt trong tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, để lại “dấu ấn Võ Văn Kiệt” góp phần xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, đồng thời thể hiện tầm nhìn, trí tuệ của một nhà lãnh đạo xuất sắc.</p>
<p>Đồng chí Võ Văn Kiệt luôn cho rằng, lãnh đạo đất nước phát triển kinh tế &#8211; xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân là tiền đề để đất nước giữ vững ổn định về chính trị &#8211; xã hội và mở rộng đối ngoại. Trên cương vị Thủ tướng Chính phủ, Đồng chí đã cùng tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương thực hiện đường lối ngoại giao rộng mở, thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế, thiết lập sự liên kết kinh tế khu vực và thế giới (với ASEAN, Nhật Bản và EU&#8230;), khơi dậy và phát huy tất cả các nguồn lực ấy để giành được nhiều nhất lợi ích cho dân tộc mình trong tư thế độc lập, tự chủ, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế &#8211; xã hội, phá vỡ thế bao vây, cấm vận, đưa sự nghiệp cách mạng luôn tiến lên phía trước.</p>
<p>Sau khi rời cương vị Thủ tướng Chính phủ (8/1997), đồng chí Võ Văn Kiệt vẫn dành nhiều tâm huyết, trí tuệ cống hiến cho Đảng, cho đất nước. Với vai trò Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đồng chí đã dồn hết nghị lực và tâm trí cho công cuộc xây dựng Đảng, với nhiều kiến nghị cụ thể, tâm huyết trong các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, cũng như trong nhiều sinh hoạt quan trọng của Đảng, góp phần thiết thực vào công tác đổi mới và chỉnh đốn Đảng, để Đảng ta xứng đáng là đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của cả dân tộc, đáp ứng niềm tin của Nhân dân.</p>
<ol start="2">
<li><strong> Người cộng sản tiêu biểu cho tinh thần không ngừng rèn luyện, học hỏi, năng động và sáng tạo</strong></li>
</ol>
<p>Ngay từ nhỏ, Võ Văn Kiệt đã bộc lộ tư chất thông minh, hiếu học, nhưng do hoàn cảnh gia đình nghèo túng, Đồng chí không có điều kiện theo học tại các trường lớp. Tuy nhiên, với trí tuệ thông minh, cùng với nghị lực phi thường, Đồng chí không ngừng trau dồi kiến thức và lý luận cách mạng. Có thể nói, đồng chí Võ Văn Kiệt là tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học cầu tiến, đặc biệt là học từ thực tiễn cách mạng để trưởng thành cả về nhận thức lý luận và bản lĩnh cách mạng.</p>
<p>Ngay cả những năm tháng kháng chiến ác liệt, mỗi khi rảnh rỗi, Đồng chí đều tranh thủ đọc sách, báo, tài liệu, ghi chép, học hỏi kinh nghiệm từ các đồng chí lãnh đạo, từ những trí thức yêu nước và cả cấp dưới của mình. Sau khi đất nước thống nhất, dù giữ chức vụ cao, rất bận rộn với công việc, nhưng Đồng chí vẫn thường xuyên nghiên cứu, học tập để nâng tầm hiểu biết. Theo Đồng chí, cần tôn trọng những người có bằng cấp, tôn trọng và lắng nghe trí thức, nhưng Đồng chí cũng cho rằng việc học không vì bằng cấp mà học là để đem những kiến thức mới vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, nhất là để phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Cách mạng là sáng tạo, sự nghiệp cách mạng đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo phải có khả năng tổng kết thực tiễn, phát hiện cái mới và nhân rộng cái mới. Tinh thần ham học, ham đọc của Đồng chí gần gũi một cách tự nhiên với phẩm chất năng động và sáng tạo, nhạy bén với cái mới, cái tiến bộ.</p>
<p>Năm 1993, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thành lập Tổ chuyên gia tư vấn về cải cách kinh tế và cải cách hành chính để tham khảo ý kiến khi hoạch định những chính sách lớn. Bằng năng lực trí tuệ sắc sảo và trực giác mẫn tiệp của mình, Đồng chí đã nắm bắt cái thần, cốt lõi của những vấn đề phức tạp, trên cơ sở đó, đã đưa ra những quyết định táo bạo và chính xác.</p>
<p>Là nhà lãnh đạo, nhà hoạt động thực tiễn trong Nhân dân, chú ý nghiên cứu thực tiễn đất nước, sâu sát cơ sở; có năng lực tổng kết thực tiễn, phát hiện cái mới, dám quyết định và dám chịu trách nhiệm, đồng chí Võ Văn Kiệt đã đóng góp cho Đảng nhiều chủ trương, chính sách sáng tạo, góp phần đưa đất nước vượt qua thời điểm gay cấn, khó khăn, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải thiện đời sống Nhân dân, tăng cường xây dựng hệ thống chính trị, giữ vững quốc phòng &#8211; an ninh, không ngừng mở rộng quan hệ đối ngoại và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.</p>
<ol start="3">
<li><strong> Tấm gương cộng sản kiên trung, suốt đời vì nước, vì dân, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh</strong></li>
</ol>
<p>Đồng chí Võ Văn Kiệt là một người cộng sản luôn đặt lợi ích của Nhân dân, của Tổ quốc lên trên hết, trước hết. Suy nghĩ và việc làm của Đồng chí luôn thể hiện sự trăn trở của một công dân, của một nhà lãnh đạo, người đứng đầu Chính phủ đau đáu vì tiền đồ phát triển của đất nước. Đồng chí không say sưa với những thắng lợi, mà luôn tìm tòi theo cách nghĩ khám phá, đột phá, sáng tạo. Mỗi khi nhắc tới cuộc đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ, khó khăn vì độc lập, tự do của Tổ quốc, Đồng chí luôn trăn trở Đảng phải làm gì cho dân để đáp ứng lại sự hy sinh to lớn và vô giá đó.</p>
<p>Đồng chí luôn day dứt về nguy cơ tụt hậu của đất nước, về sự tăng trưởng bền vững của nước nhà, làm sao phát huy được tiềm năng sẵn có trong Nhân dân để tận dụng cơ hội, bứt phá đưa đất nước phát triển nhanh hơn. Với tầm nhìn xa, tư tưởng nhân văn, đoàn kết, hòa hợp, chủ động khép lại quá khứ chiến tranh và hướng tới tương lai, đồng chí Võ Văn Kiệt đã góp phần tạo sự ổn định và phát triển mạnh mẽ của đất nước.</p>
<p>Tầm nhìn, cách suy nghĩ và hành động của Thủ tướng Võ Văn Kiệt là tầm nhìn vượt thời đại. Hơn nửa thời gian cuộc đời hoạt động cách mạng, kinh qua hai cuộc chiến tranh, nhưng đồng chí Võ Văn Kiệt đã sớm nhìn thấy xu thế vận động của thế giới trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đồng chí thường nói đổi mới là sáng tạo, là biết khai thác, phát huy thế mạnh của đất nước, dân tộc, lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam, vượt qua những trở lực về tư duy cũ kỹ, lạc hậu và phong cách lãnh đạo quan liêu, đem lại chất lượng cao cho công cuộc đổi mới và chủ nghĩa xã hội.</p>
<p>Xuất phát từ tấm lòng yêu nước, trọng dân, thương dân, lòng tự hào dân tộc sâu sắc, đồng chí Võ Văn Kiệt chủ động đến với Nhân dân để hiểu dân, học dân, hỏi dân, bàn bạc với dân và tìm ra cách làm có hiệu quả nhất. Đồng chí không nói nhiều, viết nhiều về tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Đồng chí tỏ rõ sự thấm nhuần về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, biểu hiện rõ nhất là không giáo điều, rập khuôn, máy móc; miệng nói tay làm, nói ít làm nhiều, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo. Đồng chí Võ Văn Kiệt đã làm đúng tinh thần lời dạy của Bác Hồ, người cán bộ khi nhận nhiệm vụ do Nhân dân ủy thác thì phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận.</p>
<p>Đồng chí Võ Văn Kiệt luôn tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trung thành và kiên định Chủ nghĩa Mác &#8211; Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo Đồng chí, nội hàm của mọi khái niệm lý luận không đứng im, bất biến mà đều vận động và được bổ sung bằng thực tiễn phát triển của lịch sử. Qua đó có thể thấy tư duy chính trị của đồng chí Võ Văn Kiệt là toàn diện, sâu sắc, nhạy bén và có tầm chiến lược. Tâm nguyện của đồng chí Võ Văn Kiệt là: một dân tộc đã trải qua bao gian khổ, hy sinh, mất mát để  giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, dân tộc ấy phải được sống hạnh phúc trong độc lập và tự do, được hưởng &#8220;công bằng, dân chủ, văn minh&#8221; như mọi dân tộc tiên tiến trên thế giới. Đó là tấm lòng yêu nước thương dân, chủ nghĩa nhân văn cao cả và sâu sắc của Đồng chí, một phẩm chất mà Đồng chí đã suốt đời rèn luyện, noi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh &#8211; người thầy vĩ đại và tôn kính của mình. Ðồng chí là hình ảnh cao đẹp về một nhà lãnh đạo đã giành được chiến thắng trước những thử thách khốc liệt, đầy cám dỗ của kinh tế thị trường, để mãi mãi là một người cộng sản chân chính trong trái tim của Nhân dân.</p>
<p>***</p>
<p>Đồng chí Võ Văn Kiệt với 86 tuổi đời, 69 tuổi Đảng, đã có những cống hiến to lớn, cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Võ Văn Kiệt luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân, sống giản dị, khiêm tốn, luôn đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, của Nhân dân lên trên hết; là một tấm gương tiêu biểu, mẫu mực về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; một người cộng sản chân chính với trái tim nhân hậu mãi mãi ở trong lòng Nhân dân ta và bạn bè quốc tế.</p>
<p>Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Võ Văn Kiệt đúng vào dịp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các nghị quyết của Trung ương, đặc biệt là Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII <em>về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”</em>, nhằm tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.</p>
<p>Đây là đợt sinh hoạt chính trị có ý nghĩa sâu sắc để tôn vinh và tri ân những cống hiến to lớn, quan trọng của đồng chí Võ Văn Kiệt đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc; đồng thời, góp phần giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, lòng yêu nước, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý chí, khát vọng vươn lên, cống hiến cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ Việt Nam.</p>
<p>Học tập tấm gương đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh chính trị, tư duy sáng tạo và gần dân của đồng chí Võ Văn Kiệt, chúng ta nguyện nêu cao ý chí cách mạng, đoàn kết nhất trí, chung sức, chung lòng ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của người cộng sản, tích cực học tập, nâng cao trình độ mọi mặt, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp đã đề ra, đưa công cuộc đổi mới đất nước giành được những thành tựu mới to lớn hơn, toàn diện hơn, vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.</p>
<p><strong>BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG</strong></p>
</div>
<p><!-- /wp:paragraph --></p>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-100-nam-ngay-sinh-dong-chi-vo-van-kiet/">Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Võ Văn Kiệt (23/11/1922 – 23/11/2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-100-nam-ngay-sinh-dong-chi-vo-van-kiet/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phan Đăng Lưu (05/05/1902 – 05/05/2022)</title>
		<link>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-dong-chi-phan-dang-luu/</link>
					<comments>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-dong-chi-phan-dang-luu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đoàn Thanh niên]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 May 2022 01:00:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[myaloha]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://hiu.vn/?p=58926</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-dong-chi-phan-dang-luu/">Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phan Đăng Lưu (05/05/1902 – 05/05/2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<style type="text/css"></style>
<div class="kc-elm kc-css-2857214 kc-row-container module">
<div class="wc-row row">
<div class="kc-wrap-columns">
<div class="kc-elm kc-css-2574184 small-12 columns small-12">
<div class="kc-col-container">
<div class="kc-elm kc-css-403601 kc_text_block">
<p class="has-text-align-left"><strong id="post__summary" class="post__summary post__item mt-3">Đoàn trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng trân trọng giới thiệu toàn văn bản Đề cương tuyên truyền Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phan Đăng Lưu, lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam (5/5/1902 &#8211; 05/5/2022).</strong></p>
<div id="post__content" class="post__content post__item mt-2">
<p><strong>I. KHÁI LƯỢC TIỂU SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ PHAN ĐĂNG LƯU</strong></p>
<p>Đồng chí Phan Đăng Lưu sinh ngày 05/5/1902<strong> </strong>trong một gia đình nhà nho, có truyền thống yêu nước<strong> </strong>ở thôn Đông, xã Tràng Thành (nay là xã Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An<strong> </strong>&#8211; một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng<strong>. </strong>Thuở nhỏ, vốn thông minh, ham học, Phan Đăng Lưu theo học chữ Hán, sau học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp.</p>
<p>Giai đoạn 1923 &#8211; 1924, sau khi tốt nghiệp Trường Canh nông thực hành ở Tuyên Quang, Phan Đăng Lưu được nhận làm viên chức của Sở Canh nông Bắc Kỳ và công tác tại trạm nghiên cứu tơ tằm ở huyện Thanh Ba, Phú Thọ. Một năm sau, Phan Đăng Lưu chuyển về làm việc tại Sở Canh nông Nghệ An ở Vinh và gia nhập Hội Phục Việt &#8211; tổ chức sau đó có các tên gọi khác là Hưng Nam, Việt Nam Cách mạng Đảng, Việt Nam Cách mạng đồng chí hội, Tân Việt Cách mạng Đảng. Nghi ngờ Phan Đăng Lưu có liên quan đến các hoạt động chính trị chống Pháp, tháng 6/1927, Khâm sứ Trung Kỳ ra quyết định thải hồi. Trở về quê hương, Phan Đăng Lưu tiếp tục hoạt động cách mạng, được Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Đảng giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở tại Yên Thành, Nghệ An.</p>
<p>Tháng 5/1928, Phan Đăng Lưu được điều động vào Huế tham gia Ban Biên tập Quan Hải Tùng Thư và được bổ sung vào Ban Thường vụ của Tổng bộ;</p>
<p>Tháng 7/1928, tại Đại hội Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Đảng, được bầu làm Ủy viên phụ trách công tác tuyên huấn;</p>
<p>Cuối tháng 9/1928, được Tổng bộ Tân Việt cử sang Quảng Châu, Trung Quốc để bàn việc hợp nhất với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.</p>
<p>Tháng 9/1929, được cử sang Quảng Châu lần thứ hai, nhưng khi ở Hải Phòng, do có kẻ phản bội, đồng chí Phan Đăng Lưu bị mật thám bắt đưa về giam tại Nhà lao Vinh và bị Tòa án Nam triều ở Nghệ An kết án ba năm tù khổ sai<a href="file:///C:/Users/DELL/Downloads/De%20cuong%20Phan%20V%C4%83n%20L%C6%B0u.doc#_ftn1" name="_ftnref1"><sup>[1]</sup></a>, đày lên Nhà tù Buôn Ma Thuột. Trong tù, Đồng chí đã trở thành đảng viên cộng sản và tham gia Ban lãnh đạo nhà tù. Giữa năm 1936, được thả và bị đưa về quê nhà quản thúc, nhưng chỉ một thời gian ngắn Đồng chí đã vào thành phố Huế tìm bắt liên lạc với tổ chức.</p>
<p>Đầu năm 1937, tham gia lập lại Xứ ủy Trung Kỳ, được cử vào ban lãnh đạo Xứ ủy và tham gia chỉ đạo cuộc đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ ở Trung Kỳ, trực tiếp chỉ đạo cuộc tuyển cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ;</p>
<p>Tháng 9/1937, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tiếp tục tham gia lãnh đạo Xứ ủy Trung Kỳ;</p>
<p>Tháng 9/1939, được Trung ương phân công phụ trách phong trào các tỉnh Nam Kỳ;</p>
<p>Từ ngày 6 đến 8/11/1939, tham dự Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu bàn về chuyển hướng chiến lược của Đảng, tiến tới giai đoạn dân tộc giải phóng;</p>
<p>Tháng 7/1940, dự Hội nghị Xứ ủy Nam Kỳ, Đồng chí đề nghị tạm hoãn cuộc khởi nghĩa và bí mật ra Bắc chuẩn bị cho việc tái lập Ban Chấp hành Trung ương.</p>
<p>Tháng 11/1940, Đồng chí ra Hà Nội họp với Xứ ủy Bắc Kỳ thống nhất tổ chức Hội nghị tái lập Ban Chấp hành Trung ương;</p>
<p>Từ ngày 6 đến 9/11/1940, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy của Đảng diễn ra tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh), được cử vào Ban Chấp hành Trung ương mới và được giao nhiệm vụ trở vào Nam truyền đạt ý kiến của Trung ương về hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ;</p>
<p>Ngày 22/11/1940, khi vừa về tới Sài Gòn, chưa kịp truyền đạt ý kiến của Trung ương thì bị mật thám Pháp bắt;</p>
<p>Ngày 3/3/1941, bị Tòa án binh của chính quyền thực dân Pháp kết án tử hình; Ngày 26/8/1941, bị xử bắn tại trường bắn Ngã Ba Giồng, Bà Điểm, Hóc Môn, tỉnh Gia Định.</p>
<p>Với 39 năm tuổi đời, 16 năm hoạt động cách mạng liên tục, trong đó có hơn 7 năm bị giam cầm trong lao tù đế quốc, đồng chí Phan Đăng Lưu đã cống hiến và hy sinh trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, trở thành nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam.</p>
<p><strong>II. NHỮNG ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG CỦA ĐỒNG CHÍ PHAN ĐĂNG LƯU ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ DÂN TỘC</strong></p>
<p><strong><em>1. Phan Đăng Lưu </em></strong><em>&#8211; <strong>Người thanh niên yêu nước, sớm nhận thức về con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, tích cực hoạt động cho sự ra đời của Đảng Cộng sản ở Việt Nam</strong></em></p>
<p>Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, ảnh hưởng sự giáo dục của gia đình và truyền thống yêu nước quê hương cách mạng, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Phan Đăng Lưu đã ấp ủ hoài bão giúp dân, giúp nước. Sau khi tốt nghiệp Trường Canh nông thực hành ở Tuyên Quang, vào làm việc ở Sở Canh nông Bắc Kỳ rồi chuyển sang Sở Canh nông Trung Kỳ và đã sớm nhận ra rằng một công chức dưới chế độ thực dân không dễ gì làm lợi cho dân, cho nước; Phan Đăng Lưu quyết định chuyển hướng tập trung vào nghiên cứu các môn khoa học chính trị &#8211; xã hội, coi đó là khởi điểm cho con đường đi mới của mình.</p>
<p>Thời gian này, ở Vinh hình thành Hội Phục Việt (7/1925) &#8211; tổ chức tiền thân của Tân Việt cách mạng Đảng. Được tiếp xúc với một số thanh niên yêu nước trong tổ chức Phục Việt, như Trần Phú, Hà Huy Tập, Ngô Đức Diễn,&#8230; Phan Đăng Lưu đã đi đến quyết định gia nhập Hội Phục Việt và tích cực tham gia các hoạt động của Hội, trong đó có phong trào đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu, mở lớp dạy văn hóa cho công nhân, nông dân trong vùng&#8230; Đây cũng là cơ hội để Phan Đăng Lưu đọc và nghiên cứu nhiều sách báo tiến bộ từ nước ngoài gửi về, như báo <em>Người cùng khổ</em>, báo <em>Nhân đạo</em>, báo <em>Việt Nam hồn</em>, cuốn <em>Bản án chế độ thực dân Pháp</em>, <em>Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản</em>, một số tác phẩm của Lênin… Nhờ đó, giúp Phan Đăng Lưu sáng tỏ con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Những chuyển biến trong nhận thức, đặc biệt là hoạt động cách mạng của Phan Đăng Lưu đã bị chính quyền thực dân nghi ngờ, chỉ trong mấy tháng, chúng đã chuyển Phan Đăng Lưu đi làm việc ở nhiều địa phương, như Linh Cảm (Hà Tĩnh), Phú Phong (Bình Định), Di Linh và Đà Lạt (Lâm Đồng). Ở đâu, Phan Đăng Lưu cũng tổ chức hoạt động yêu nước, chống bọn chủ sự Pháp.</p>
<p>Năm 1927, trở về quê hương, Phan Đăng Lưu tích cực hoạt động cách mạng, gây dựng cơ sở ngay tại địa phương theo sự phân công của Tổng bộ, tập hợp bạn bè tiến bộ vào tổ chức. Từ một công chức, Đồng chí đã trở thành nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp trong tổ chức Tân Việt, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương và có nhiều cống hiến to lớn trên các mặt: tham gia hoạch định đường lối, phát triển tổ chức, đào tạo cán bộ và đặc biệt là góp phần quan trọng vào việc định hướng phát triển Tân Việt theo đường lối của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Quảng Châu, Trung Quốc vào tháng 5/1925.</p>
<p>Cuối năm 1928, Phan Đăng Lưu đi Quảng Châu, Trung Quốc theo sự phân công của tổ chức, để bàn việc hợp nhất Tân Việt Cách mạng Đảng với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhưng do điều kiện khách quan nên chuyến đi không thành công. Khi trở về nước, Phan Đăng Lưu vẫn đề đạt ý kiến với Tổng bộ Tân Việt, kiên trì vận động hợp nhất hai tổ chức theo hướng tiến tới thành lập Đảng Cộng sản. Điều này cho thấy Phan Đăng Lưu là một trong số ít người sớm nhận thức và tích cực đấu tranh cho sự thống nhất tổ chức và phong trào yêu nước ở Việt Nam những năm 20 của thế kỷ XX.</p>
<p><strong><em>2. Đồng chí Phan Đăng Lưu &#8211; Nhà lãnh đạo tài năng, góp phần chuyển hướng đúng đắn nhiệm vụ cách mạng qua mỗi giai đoạn lịch sử, sáng suốt trì hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, có công lớn trong việc tái lập Ban Chấp hành Trung ương</em></strong></p>
<p>Giữa năm 1936, sau gần bảy năm bị giam cầm ở Nhà lao Vinh và Nhà tù Buôn Ma Thuột &#8211; một trong những nhà tù (nhà đày) khắc nghiệt nhất của thực dân Pháp ở Đông Dương, Phan Đăng Lưu được ân xá trở về quê nhà Nghệ An một thời gian, rồi trở vào Thừa Thiên Huế hoạt động. Đồng chí nhanh chóng kết nối với các cán bộ Đảng đang hoạt động ở Huế (Nguyễn Chí Diểu, Bùi San, Tôn Quang Phiệt, Hải Triều…) bước đầu củng cố, hình thành Ban lãnh đạo của Đảng ở Trung Kỳ. Sau khi liên lạc được với Trung ương Đảng, Đồng chí được Trung ương chỉ định tham gia Xứ ủy lâm thời Trung Kỳ. Đây là cống hiến đầu tiên của Đồng chí trong công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Trung Kỳ.</p>
<p>Trong quá trình hoạt động ở Huế, với ưu thế về vốn chữ Nho, chữ Pháp và tầm nhìn, kinh nghiệm tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức quần chúng, cùng với quan hệ rộng trong các tầng lớp xã hội, đồng chí Phan Đăng Lưu đã góp phần quan trọng cùng Xứ ủy Trung Kỳ lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng Trung Kỳ giành được nhiều thắng lợi, gây tiếng vang lớn lúc bấy giờ.</p>
<p>Theo sự phân công của Xứ ủy Trung Kỳ, đồng chí Phan Đăng Lưu là người chỉ đạo trực tiếp cuộc đấu tranh vào Viện Dân biểu Trung Kỳ. Đồng chí đã vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng: không gạt bỏ nghị trường mà lợi dụng nghị trường, không tẩy chay tuyển cử mà tham gia tuyển cử. Trong cuộc đấu tranh này, Đồng chí đã sử dụng linh hoạt diễn đàn đấu tranh công khai qua báo chí và văn học nghệ thuật. Kết quả là cuộc đấu tranh vào Viện Dân biểu Trung Kỳ thắng lợi rực rỡ đến mức tuyệt đối: Tất cả 18 ứng cử viên do Đảng đưa ra tranh cử đều trúng cử ngay từ vòng đầu và đều nắm các chức vụ quan trọng trong Viện. Đây là thắng lợi thực sự to lớn, vang dội đầu tiên ở nước ta dưới ách thống trị của thực dân Pháp.</p>
<p>Tháng 9/1937, Đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trên cương vị mới, Đồng chí đã đóng góp tích cực vào công tác lãnh đạo và chỉ đạo cuộc đấu tranh cải tổ Viện Dân biểu Trung Kỳ kết hợp với các cuộc đấu tranh của quần chúng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là đồng chí Phan Đăng Lưu, cuộc đấu tranh đã giành thắng lợi to lớn, biến Viện Dân biểu thành diễn đàn đấu tranh công khai của Đảng hướng tới các mục tiêu đòi các quyền tự do, dân chủ: tập hợp Nhân dân đấu tranh đòi giảm thuế, tăng thêm quyền cho Viện Dân biểu, đòi tự do báo chí, thả tù chính trị, tự do nghiệp đoàn, chống bọn phản động thuộc địa, vạch mặt bọn tham quan ô lại lợi dụng chức quyền bán nước, hại dân…</p>
<p>Cuối năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương và bọn tay sai tăng cường áp bức, bóc lột Nhân dân, đàn áp cách mạng nước ta. Tháng 9/1939, đồng chí Phan Đăng Lưu được Trung ương phân công phụ trách phong trào các tỉnh Nam Kỳ. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, Đồng chí tham gia tích cực vào việc chuyển hướng chiến lược của Đảng. Cùng với Xứ ủy Nam Kỳ, Đồng chí đã có nhiều đóng góp quan trọng, đưa phong trào cách mạng Nam Kỳ phát triển lên một bước mới.</p>
<p>Trong nửa đầu năm 1940, trước sự tăng cường đàn áp, khủng bố của kẻ thù, các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần lượt bị bắt. Ban Chấp hành Trung ương chỉ còn lại một mình đồng chí Phan Đăng Lưu chèo lái con thuyền cách mạng nước ta. Khó khăn, thử thách to lớn này đặt lên vai Đồng chí những trọng trách mới, nhất là sau khi đồng chí Võ Văn Tần &#8211; Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ bị địch bắt. Nhiều chỉ thị của Đồng chí, nhân danh Ban Chấp hành Trung ương được thi hành trong Đảng trên toàn quốc nhằm vận dụng thời cơ, xiết chặt kỷ luật, củng cố tổ chức đi vào hoạt động bí mật và vận dụng sáng tạo các phương pháp, hình thức đấu tranh phù hợp trên tinh thần đặt yêu cầu “dân tộc giải phóng” lên hàng đầu, đặc biệt là chuẩn bị xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ sáu của Đảng.</p>
<p>Sau khi tạm trì hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Đồng chí bí mật bắt tay vào chuẩn bị mọi mặt cho Hội nghị tái lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng &#8211; Bộ chỉ huy tối cao mới của Đảng. Đây là trọng trách lớn, có ý nghĩa sống còn của Đảng, của cách mạng. Trước khi gặp Xứ ủy Bắc Kỳ để thống nhất, công việc chuẩn bị cho    Hội nghị do đồng chí Phan Đăng Lưu tự đề ra, tự chuẩn bị và tự móc nối. Tháng 11/1940, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy được tổ chức tại Đình Bảng, Từ Sơn,  Bắc Ninh. Hội nghị tiến hành cử Ban Chấp hành lâm thời; đồng chí Trường Chinh được cử làm Quyền Tổng Bí thư của Đảng. Nghị quyết Hội nghị tiếp tục thực hiện đường lối do Hội nghị Trung ương lần thứ sáu đã đề ra, tích cực chuẩn bị mọi mặt tiến tới Tổng khởi nghĩa giành lại non sông đất nước khi thời cơ xuất hiện.</p>
<p>Thành công của Hội nghị Trung ương lần thứ bảy có vai trò to lớn của    đồng chí Phan Đăng Lưu. Với tầm nhìn chiến lược, Đồng chí nhận thấy thời cơ khởi nghĩa chưa chín muồi, nếu chưa chuẩn bị kỹ lưỡng, thống nhất trên toàn quốc đã tiến hành khởi nghĩa riêng lẻ sẽ dẫn đến thất bại. Tình hình lúc đó đòi hỏi phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo thật sáng suốt, kịp thời của Bộ Chỉ huy tối cao của Đảng. Do đó, việc tái lập Ban Chấp hành Trung ương để lãnh đạo toàn quốc, chuẩn bị mọi mặt, chớp thời cơ đưa cách mạng nước ta đi tới thắng lợi là sứ mệnh lịch sử cấp bách nhất, cao nhất lúc bấy giờ đặt lên vai đồng chí Phan Đăng Lưu. Thử thách và trách nhiệm càng nặng nề hơn trong tình huống không liên lạc được với Quốc tế Cộng sản và Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Có thể nói, việc thống nhất với Xứ ủy Bắc Kỳ tổ chức thành công Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ bảy là đóng góp quan trọng nhất của đồng chí Phan Đăng Lưu đối với Đảng ta và cách mạng Việt Nam.</p>
<p><strong><em>3. Đồng chí Phan Đăng Lưu &#8211; Người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận báo chí và văn học cách mạng</em></strong></p>
<p>Xuất thân trong gia đình ở một miền quê giàu truyền thống yêu nước, hiếu học và nhân văn, Phan Đăng Lưu sớm bộc lộ phẩm chất của một tài năng về sự nghiệp bút nghiên. Ngay từ thời tuổi trẻ học đường, Đồng chí đã sáng tác thơ ca, câu đối đả phá những cảnh chướng tai gai mắt diễn ra trong xã hội đương thời, thông cảm với Nhân dân bị đọa đày, đau khổ.</p>
<p>Sự nghiệp cách mạng báo chí của Phan Đăng Lưu thật sự bắt đầu, sôi nổi và phong phú khi tham gia Đảng Tân Việt. Cuối năm 1927 đầu năm 1928, để tuyên truyền tư tưởng cách mạng, Đào Duy Anh và những người lãnh đạo Đảng Tân Việt ở Huế thành lập nhà sách Quan Hải Tùng Thư. Trên cương vị là Ủy viên Thường vụ Đảng Tân Việt phụ trách tuyên truyền, đồng chí Phan Đăng Lưu đã dịch và biên soạn nhiều tư liệu quý như: <em>A.B.C Chủ nghĩa Mác, Dân chủ mới</em>; dịch các cuốn <em>Xã hội luận, Lịch sử các học thuyết kinh tế</em>… Các cuốn sách và bài viết của Đồng chí đã góp phần thiết thực thức tỉnh nhiều nhà trí thức, thanh niên, học sinh và thấm dần vào các tầng lớp Nhân dân lao động.</p>
<p>Trong chốn lao tù, nhận thấy lính gác ngục là người Êđê, vừa không biết tiếng Kinh, vừa bị kích động hằn thù dân tộc, chia rẽ Kinh, Thượng, Đồng chí đã kết hợp với một số anh em tù chính trị bí mật ra tờ <em>“Doãn Đê tù báo”</em>. Tờ báo được bí mật viết tay, lưu truyền trong nội bộ nhà tù, báo ra hàng tuần, đọc xong rồi hủy đi, vừa là công cụ giác ngộ lính Êđê, vừa là công cụ tuyên truyền của Đảng. Đồng thời,  Đồng chí còn viết nhiều bài báo tố cáo tội ác của nhà tù gửi ra bên ngoài.</p>
<p>Tháng 7/1937, Đồng chí cùng nhiều nhà báo tiến bộ ở Huế triệu tập Hội nghị báo giới Trung Kỳ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nhà báo dân chủ tiến bộ, hình thành được Mặt trận báo chí dân chủ Trung Kỳ, đánh bại bọn bồi bút phản động. Hoạt động của Mặt trận báo chí Trung Kỳ tuy ngắn ngủi nhưng có ý nghĩa đi tiên phong, phất cao ngọn cờ dân chủ của giới báo chí nước ta lúc bấy giờ mà về sau báo chí Bắc Kỳ và Nam Kỳ còn tiếp bước. Lịch sử báo chí cách mạng nước ta ghi nhận công lao to lớn này của Đồng chí như một chiến sĩ tiên phong cho dòng báo chí cách mạng.</p>
<p>Nhận thức rõ báo chí, văn học là những công cụ đấu tranh sắc bén, đồng chí Phan Đăng Lưu vừa xây dựng, chỉ đạo các tờ báo: <em>Sông Hương tục bản, Dân, Dân tiến, Dân muốn</em>; vừa trực tiếp đào tạo, đoàn kết tập hợp lực lượng báo giới, đặc biệt là các trí thức trẻ. Bản thân Đồng chí cũng là cây bút chủ lực viết các bài chính luận, tiểu phẩm văn học, bình luận văn học… Trên bước đường cách mạng, Đồng chí thường xuyên quan tâm bồi dưỡng chính trị và nghiệp vụ văn học &#8211; nghệ thuật cho đội ngũ trí thức trẻ, trong đó có các đồng chí Trịnh Xuân An, Trịnh Xuân Quang, Hà Thế Hanh, Tố Hữu, Thôi Hữu, Hồng Chương…</p>
<p>Sự nghiệp báo chí, văn học của đồng chí Phan Đăng Lưu có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần xây dựng nền móng của văn học cách mạng, khái quát những quan điểm khoa học và cách mạng về trí thức, về văn nghệ sĩ và nền văn học &#8211; nghệ thuật của những người cộng sản, mở đường cho nền văn học &#8211; nghệ thuật nước nhà phát triển.</p>
<p><strong><em>4. Đồng chí Phan Đăng Lưu &#8211; tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng</em></strong></p>
<p>Cuộc đời của đồng chí Phan Đăng Lưu đã để lại tấm gương đạo đức sáng ngời của một con người tận trung với nước, tận hiếu với dân, không màng danh lợi. Ở Đồng chí luôn có niềm tin tuyệt đối với Đảng, niềm tin mãnh liệt vào sự thắng lợi tất yếu của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Phẩm chất đạo đức đó đã nuôi dưỡng chí khí chiến đấu, thôi thúc đồng chí Phan Đăng Lưu luôn đứng trên thế tiến công cách mạng dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, từ khi còn là một thanh niên yêu nước đến khi trở thành đảng viên Đảng Cộng sản trong lao tù đế quốc và đến tận những giây phút cuối cùng hy sinh anh dũng trên pháp trường dưới làn đạn của kẻ thù.</p>
<p>Bảo đảm cho sự trường tồn và phát triển của Đảng là mệnh lệnh mà đồng chí Phan Đăng Lưu luôn nghiêm chỉnh chấp hành, dù phải hy sinh lợi ích cá nhân. Hành động tiêu biểu cho đức hy sinh ấy là việc Đồng chí góp phần tiến cử đồng chí Trường Chinh vào chức vụ cao nhất trong Đảng mặc dù khi đó đồng chí Trường Chinh mới chỉ là Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ. Đó là minh chứng rõ nét cho tấm gương đạo đức cao cả hết lòng vì Đảng, vì dân, chí công vô tư của đồng chí Phan Đăng Lưu.</p>
<p>Ở đồng chí Phan Đăng Lưu, lòng yêu nước và tình thương yêu Nhân dân thống nhất với nhau. Lòng yêu nước xuất phát từ lòng thương yêu những con người nghèo khổ, cơ hàn và tâm niệm cứu Nhân dân thoát khỏi cảnh lầm than, nô lệ. Khi được giác ngộ cách mạng, đồng chí Phan Đăng Lưu đã nhận thức rõ trách nhiệm của mình phải gần gũi Nhân dân, hiểu được tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân để từ đó mở mang trí óc cho Nhân dân, hướng dẫn họ đi theo con đường cách mạng. Khi còn ở Vinh, Đồng chí luôn tìm dịp để gần gũi, giác ngộ con đường cách mạng cho những người nông dân, công nhân, thanh niên, trí thức. Ở Nhà tù Buôn Ma Thuột, Đồng chí tận dụng mọi cơ hội để tuyên truyền trong các bạn tù, cảm hóa lính gác ngục người Êđê. Ở Huế, Đồng chí thường xuyên tiếp xúc, thâm nhập, tìm hiểu đời sống và nguyện vọng của Nhân dân lao động.</p>
<p>Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, hoạt động bí mật, công khai hay trong nhà lao đế quốc, Đồng chí luôn đặt công tác đào tạo, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ cho Đảng lên hàng đầu. Việc đào tạo cán bộ của Đồng chí rất linh hoạt, toàn diện: dạy chữ quốc ngữ, khoa học, văn học, báo chí đến lý luận Mác &#8211; Lênin, đường lối, chủ trương của Đảng và phương pháp hoạt động cách mạng… tùy trình độ của mỗi lớp, mỗi người mà có chương trình, cách thức phù hợp. Trong đó, nhiều đồng chí đã trưởng thành và trở thành những cán bộ có uy tín của Đảng, như Phan Đăng Tài, Nguyễn Oanh, Nguyễn Vịnh (Nguyễn Chí Thanh), Tố Hữu, Thôi Hữu, Hồng Chương…</p>
<p>Đồng chí Phan Đăng Lưu cũng thường xuyên gặp gỡ các tầng lớp trí thức, thanh niên, học sinh, công chức, các nhân sĩ, các nhà khoa bảng, tu hành để thuyết phục họ đi theo con đường cách mạng của Đảng. Với học vấn sâu rộng, đức tính khiêm tốn, đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống giản dị, Phan Đăng Lưu có uy tín lớn và nhận được sự quý trọng của các bậc trí thức, nhân sĩ dân chủ khi đó, như    Ngô Đạm (Quảng Nam), Đậu Văn Bính (Hà Tĩnh), Nguyễn Đan Quế (Thanh Hóa), Phan Triệu Khanh (Quảng Trị)… Họ thường trao đổi, tham khảo ý kiến của Phan Đăng Lưu mặc dù biết Đồng chí là một người cộng sản đã từng thụ án ở     Buôn Ma Thuột. Nhiều nhà tư sản dân tộc, như Võ Đình Thụy, Võ Đình Dung (Quảng Ngãi)… cũng tìm đến Phan Đăng Lưu trao đổi ý kiến về thời cuộc, coi Đồng chí như “nhà cố vấn” chính trị của mình. Những cống hiến to lớn của đồng chí Phan Đăng Lưu cho Đảng, cho cách mạng là kết quả tất yếu của việc cần kiệm tích lũy vốn hiểu biết sâu rộng trên cơ sở miệt mài học tập, lao động và hoạt động cách mạng.</p>
<p>Ở đồng chí Phan Đăng Lưu, tấm gương đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư luôn thống nhất và là sự biểu hiện toàn diện, cụ thể của tấm gương đạo đức tận trung với nước, tận hiếu với dân. Những ngày cuối đời trong xà lim án chém, đồng chí Phan Đăng Lưu vẫn linh hoạt, sáng tạo, tổ chức trao đổi, đúc rút kinh nghiệm về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ với các đồng chí trong tù; vẫn hết lòng chăm sóc, thương yêu những đồng chí bị kẻ thù tra tấn dã man, tàn bạo; vẫn truyền và khơi dậy ý chí bất khuất, kiên cường với niềm lạc quan tin tưởng vào ngày toàn thắng của cách mạng cho những đồng chí còn ở lại.</p>
<p>Cuộc đời hoạt động cách mạng oanh liệt của đồng chí Phan Đăng Lưu tuy ngắn ngủi nhưng những đóng góp của Đồng chí cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc rất quan trọng và to lớn. Nhắc đến Phan Đăng Lưu là nhắc đến người chiến sĩ cộng sản kiên cường, mẫu mực, có lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, một nhà lãnh đạo cách mạng có tầm nhìn xa trông rộng, đầy mưu lược, khôn khéo, dũng cảm, kiên cường; một nhà báo, nhà văn, nhà lý luận tiên phong xuất sắc, tiêu biểu của Đảng và cách mạng nước ta. Những cống hiến to lớn và tấm gương cộng sản sáng ngời của đồng chí Phan Đăng Lưu được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và các thế hệ mai sau đời đời trân trọng, ghi nhớ, biết ơn sâu sắc.</p>
<p>***</p>
<p>Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phan Đăng Lưu (05/5/1902 &#8211; 05/5/2022) là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời, tấm gương chiến đấu, hy sinh và những cống hiến to lớn của Đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; đồng thời, qua đó tuyên truyền, giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của các cán bộ tiền bối tiêu biểu để các thế hệ hôm nay học tập, noi theo. Tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc những cống hiến to lớn của đồng chí Phan Đăng Lưu, chúng ta nguyện noi gương Đồng chí và các nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, phát huy tinh thần yêu nước, ra sức học tập, lao động, công tác và chiến đấu, đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, góp phần sớm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.</p>
<p><strong>BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG</strong></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><a href="file:///C:/Users/DELL/Downloads/De%20cuong%20Phan%20V%C4%83n%20L%C6%B0u.doc#_ftnref1" name="_ftn1">[1]</a>. Một số sách ghi là bảy năm tù khổ sai (theo <em>Phan Đăng Lưu &#8211; Tiểu sử</em>, <em>Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, 2015, tr.100</em>)</p>
</div>
<p><!-- /wp:paragraph --></p>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-dong-chi-phan-dang-luu/">Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phan Đăng Lưu (05/05/1902 – 05/05/2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-dong-chi-phan-dang-luu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của đồng chí Lê Hồng Phong (06/09/1902 – 06/09/2022)</title>
		<link>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-cua-dong-chi-le-hong-phong/</link>
					<comments>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-cua-dong-chi-le-hong-phong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đoàn Thanh niên]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 09 Jan 2022 01:00:19 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[myaloha]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://hiu.vn/?p=58924</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-cua-dong-chi-le-hong-phong/">Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của đồng chí Lê Hồng Phong (06/09/1902 – 06/09/2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<style type="text/css"></style>
<div class="kc-elm kc-css-559309 kc-row-container module">
<div class="wc-row row">
<div class="kc-wrap-columns">
<div class="kc-elm kc-css-1018651 small-12 columns small-12">
<div class="kc-col-container">
<div class="kc-elm kc-css-3099907 kc_text_block">
<p><em><strong><span id="post__summary" class="post__summary post__item mt-3"><u>Đoàn trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên truyền Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của đồng chí Lê Hồng Phong (06/09/1902 – 06/09/2022)</u></span></strong></em></p>
<p><b>I. TIỂU SỬ TÓM TẮT CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ HỒNG PHONG</b></p>
<p>Đồng chí Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn, sinh năm 1902<a title="" href="http://doanhnghieptrunguong.vn/van-ban-chinh-sach-moi/201208/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-110-nam-Ngay-sinh-Tong-Bi-thu-Le-Hong-Phong-2175996/#_ftn1" name="_ftnref1"><sup>[1]</sup></a> trong một gia đình nông dân ở làng Đông Thôn, tổng Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, (nay là xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An), vùng đất giàu truyền thống văn hiến và cách mạng<a title="" href="http://doanhnghieptrunguong.vn/van-ban-chinh-sach-moi/201208/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-110-nam-Ngay-sinh-Tong-Bi-thu-Le-Hong-Phong-2175996/#_ftn2" name="_ftnref2"><sup>[2]</sup></a>.</p>
<p>Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị nô lệ, cuộc sống của nhân dân vô cùng cực khổ bởi ách thống trị, áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến, thực dân. Chứng kiến những cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh yêu nước của đồng bào ta bị kẻ thù đàn áp đẫm máu, Lê Hồng Phong sớm nuôi trong mình tư tưởng yêu nước và ý chí làm cách mạng cứu nước.</p>
<p>Sau khi học hết bậc <em>Sơ học yếu lược</em>, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không thể tiếp tục đi học, Lê Hồng Phong rời quê ra thành phố Vinh, xin làm việc tại nhà máy Diêm &#8211; Bến Thuỷ. Trong thân phận người làm thuê và được tận mắt chứng kiến cuộc sống lầm than của những người lao động, Lê Hồng Phong đã vận động công nhân đứng lên đấu tranh. Sau sự kiện này, Lê Hồng Phong bị đuổi việc.</p>
<p>Năm 1923, Lê Hồng Phong và Phạm Hồng Thỏi bí mật sang Xiờm (Thỏi Lan), rồi sang Quảng Chõu (Trung Quốc) tìm con đường làm cách mạng. Tại Quảng Châu, thỏng 4-1924, Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thỏi gia nhập Tõm Tõm Xó (một tổ chức cỏch mạng do Hồ Tựng Mậu và Lờ Hồng Sơn thành lập) và hăng hái tham gia hoạt động, phát triển Tâm Tâm Xã thành một tổ chức hạt nhân cách mạng.</p>
<p>Cuối năm 1924, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu, trên cơ sở tổ chức Tâm Tâm Xã, Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng. Lê Hồng Phong được dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc phụ trách, trở thành một trong những cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt Nam được trang bị lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Sau đó, theo sự giới thiệu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tháng 8-1924, đồng chí Lê Hồng Phong được nhận vào học ở trường sĩ quan quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc). Cuối năm 1925, tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố, đồng chí vào học tại trường hàng không Quảng Châu. Tại đây, tháng 2-1926, Lê Hồng Phong được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Do có thành tích học tập xuất sắc, đồng thời được sự giới thiệu của chính quyền Quảng Châu và của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tháng 10-1926, đồng chí Lê Hồng Phong được cử sang Liờn Xụ theo học tại trường Lý luận quân sự không quân ở Lêningrát (nay là thành phố Xanh Pêtécpua). Tháng 12-1927, tốt nghiệp trường Lý luận quân sự không quân, Lê Hồng Phong tiếp tục theo học Trường đào tạo phi công quân sự ở Bôrítxgơlépxcơ. Học chưa xong khoá đào tạo phi công, tháng 10-1928, đồng chí được gọi về học tại Trường Đại học Phương Đông. Trong 3 năm (từ 1928 -1931) theo học tại Trường Đại học Phương Đông, đồng chí đã hoàn thành chương trình học tập và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô, được chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh. Đang học dở thì tháng 11-1931, đồng chí được phân công trở về nước hoạt động, chỉ đạo việc tổ chức khôi phục và phát triển cỏc cơ sở Đảng. Tuy nhiên, do mạng lưới mật thám dày đặc phong toả, đồng chí không bắt được liên lạc được với cơ sở trong nước, tạm thời phải ở lại Trung Quốc.</p>
<p>Đầu năm 1932, đồng chớ về Quảng Tây gần biờn giới Việt – Trung và chắp nối liên lạc với các đồng chí Hoàng Đỡnh Giong, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Văn Nọn, Lương Văn Chi v.v…tỡm cỏch xõy dựng lại hệ thống tổ chức của Đảng; mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ, gây dựng cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng; cử các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Hoàng Văn Nọn đi phát triển cơ sở cách mạng, xây dựng lực lượng quần chúng ở Hải Phòng, Quảng Ninh v.v.</p>
<p>Thỏng 6-1932, đồng chí Lờ Hồng Phong bàn bạc với các đồng chí lãnh đạo của Đảng, cho cụng bố bản <em>Chương trỡnh hành động của Đảng,</em> do đồng chí tham gia khởi thảo và được Quốc tế Cộng sản thông qua. <em>Chương trỡnh hành động</em> khẳng định đường lối đấu tranh cách mạng do Đảng đề ra là đúng đắn, đó có tác dụng củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, khôi phục phong trào cách mạng: đầu năm 1933, Xứ ủy Nam kỳ được tổ chức lại; năm 1934, Xứ ủy lâm thời Bắc kỳ được thành lập; Xứ ủy Trung kỳ và một số tỉnh ủy, thành ủy cũng đó được xây dựng lại.</p>
<p>Tháng 3 &#8211; 1934, Ban lónh đạo của Đảng ở nước ngoài (cũn gọi là Ban Chỉ huy ở ngoài) được chính thức thành lập tại Ma Cao (Trung Quốc). Ban Chỉ huy ở ngoài có chức năng như Ban Chấp hành Trung ương lâm thời do đồng chớ Lờ Hồng Phong làm Bí thư, đồng chí Hà Huy Tập là Uỷ viên phụ trách tuyên huấn kiêm Tổng biên tập <em>Tạp chí Bônsêvích;</em> đồng chí Nguyễn Văn Dựt phụ trách công tác kiểm tra. Khi các tổ chức Đảng trong nước, đặc biệt là các Xứ ủy đó được khôi phục, Ban lónh đạo của Đảng, đứng đầu là Lê Hồng Phong, đó quyết định triệu tập Hội nghị cán bộ trong nước tới họp ở Ma Cao (Trung Quốc), để nhận định tỡnh hỡnh, đề ra chủ trương mới nhằm củng cố Đảng, khôi phục và phát triển các tổ chức quần chúng và chuẩn bị Đại hội lần thứ I của Đảng. Trong lúc đang khẩn trương chuẩn bị Đại hội lần thứ I của Đảng, đồng chí Lê Hồng Phong nhận được giấy mời tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản. Do đó, đầu năm 1935, Lê Hồng Phong dẫn đầu đoàn đại biểu của Đảng đi Mát-xcơ-va dự đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản. Đoàn gồm 3 đồng chí: Lê Hồng Phong, Hoàng Văn Nọn và Nguyễn Thị Minh Khai. Công việc chuẩn bị Đại hội Đảng được giao lại cho các đồng chí Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên.v.v…</p>
<p>Tại Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản (họp từ 25-7 đến 21-8-1935), Lê Hồng Phong đó đọc bản tham luận quan trọng <em>Về phong trào cách mạng Đông Dương</em>. Cũng tại Đại hội này, Đảng ta được công nhận là chi bộ chính thức của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong (với bí danh Hải An), được bầu làm Ủy viờn Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.</p>
<p>Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản kết thúc, Lê Hồng Phong trở lại Thượng Hải (Trung Quốc). Khi đó, Đại hội toàn quốc lần thứ I của Đảng đó thành cụng, đồng chí Lê Hồng Phong (được bầu vắng mặt) làm Tổng Bí thư của Đảng.</p>
<p>Với cương vị Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong cùng với Trung ương Đảng đó triệu tập và chủ trỡ Hội nghị toàn quốc của Đảng (tháng 7-1936) tại Thượng Hải. Hội nghị đó quyết định chuyển hướng mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng, xác định rừ mục tiờu trực tiếp là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh đế quốc, đũi dõn chủ, dõn sinh và hũa bỡnh. Kẻ thự chủ yếu trước mắt của nhân dân Đông Dương là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai. Theo đề nghị của Lê Hồng Phong, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương, đặt tiền đề cơ sở cho cao trào đấu tranh dân chủ diễn ra trong cả nước thời gian sau đó.</p>
<p>Tháng 11 &#8211; 1937, đồng chí Lê Hồng Phong bí mật về hoạt động tại Sài Gũn, trực tiếp cựng Trung ương Đảng chỉ đạo phong trào cách mạng. Người bạn đời của đồng chí là Nguyễn Thị Minh Khai cũng đã về nước, tham gia Xứ ủy Nam Kỳ kiêm Bí thư Thành ủy Sài gũn &#8211; Chợ Lớn. Lúc này, trên cương vị Uỷ viên Thường vụ Trung ương, đồng chí Lê Hồng Phong đó cựng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chuyển Mặt trận Nhân dân phản đế, thành Mặt trận Dân chủ nhằm tập hợp đông đảo quần chúng, tranh thủ mọi lực lượng tham gia vào cuộc đấu tranh đòi tự do ngôn luận, đòi dân sinh, dân chủ và chống phát xít.</p>
<p>Ngày 22-6-1939, đồng chí Lờ Hồng Phong bị thực dõn Phỏp bắt tại Sài Gòn, kết án 6 tháng tù giam và 3 năm quản thúc. Sau khi hết hạn 6 tháng tù giam, chúng buộc đồng chí phải về quê nhà Nghệ An để theo dõi, giám sát. Tháng 1-1940, Lờ Hồng Phong lại bị bắt và đưa vào giam ở Khám Lớn &#8211; Sài Gũn. Biết đồng chí Lờ Hồng Phong là cỏn bộ lónh đạo cao cấp của Đảng, thực dân Pháp đã buộc tội đồng chí “chịu trách nhiệm tinh thần” của cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, kết án 5 năm tù giam và 10 năm quản thúc, đày ra Côn Đảo và chỉ thị cho bọn chúa đảo phải tỡm mọi cỏch hóm hại. Những trận đũn thự tàn ỏc, dó man đó làm Lờ Hồng Phong kiệt sức dần, đồng chí đã mãi mãi ra đi vào trưa ngày 6-9-1942.</p>
<p>II. NHỮNG HOẠT ĐỘNG VÀ CỐNG HIẾN CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ HỒNG PHONG ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM</p>
<p><strong>1. Lê Hồng Phong &#8211; Nhà lãnh đạo kiên định và tài năng của Đảng ta</strong></p>
<p><strong><em>a. Chủ trỡ cụng việc của Đảng trong giai đoạn cách mạng bị địch khủng bố ác liệt sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931)</em></strong></p>
<p>Sau cao trào Xụ viết Nghệ Tĩnh (1930 &#8211; 1931) thất bại, địch khủng bố dó man, kộo dài liờn tục từ cuối năm 1930 đến năm 1935 đẩy phong trào cách mạng Việt Nam vào giai đoạn vô cùng khó khăn. Hàng ngàn cán bộ, đảng viên và chiến sĩ yêu nước bị bắn giết hoặc bị tù đày. Các cơ sở Đảng từ Trung ương đến địa phương bị tan vỡ. Nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng đã bị bắt hoặc bị sát hại, như: Tổng Bí thư Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Đức Cảnh&#8230;Thực dân Pháp ở Đông Dương cũn cõu kết với đế quốc Anh ở Hương Cảng và bọn quân phiệt ở Trung Quốc, Thái Lan, truy lùng cán bộ của Đảng ta đang hoạt động ở ngoài nước, trong đó có lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hồng Công.</p>
<p>Trong bối cảnh đó, cuối năm 1931, đồng chí Lê Hồng Phong nhận chỉ thị của <em>Quốc tế Cộng sản </em>trở về nước chỉ đạo việc tổ chức khụi phục và phỏt triển cỏc cơ sở Đảng, tiếp tục đưa phong trào cách mạng tiến lên. Sau chuyến đi dài ngày, vất vả và gian khổ, vượt qua mạng lưới mật thám dày đặc phong toả, đồng chí đã về đến gần biên giới Việt &#8211; Trung và bắt liên lạc được với tổ chức Đảng tại Quảng Tây &#8211; Trung Quốc vào đầu năm 1932. Để giải quyết vấn đề thiếu hụt cán bộ, Lê Hồng Phong quyết định việc đầu tiên là mở lớp đào tạo cán bộ, như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã làm trước đây. Thực hiện chủ trương này, Lê Hồng Phong quyết định chuyển về Long Châu (một thị trấn nhỏ sát biên giới Việt – Trung). Tại đây, đồng chí liên tục mở các lớp huấn luyện cho cán bộ từ trong nước sang học tập. Tài liệu lưu tại Quốc tế Cộng sản do chính Lê Hồng Phong báo cáo, còn ghi lại: “Trong khoảng thời gian từ 10-1932 đến 3-1933, tôi… huấn luyện cho hơn 20 đồng chí từ trong nước qua, mỗi lớp học trong 2 tuần lễ”<a title="" href="http://doanhnghieptrunguong.vn/van-ban-chinh-sach-moi/201208/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-110-nam-Ngay-sinh-Tong-Bi-thu-Le-Hong-Phong-2175996/#_ftn3" name="_ftnref3"><sup>(</sup></a><sup>1)</sup>. Trong số những cán bộ được Lê Hồng Phong đào tạo, có các đồng chí sau đó đã trở thành lãnh đạo chủ chốt của Đảng như Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Giong, Lương Văn Chi v.v… Những cán bộ sau khi được đào tạo, ngay lập tức được đưa về nước hoạt động, nhờ thế mà các tổ chức Đảng trong nước được khôi phục, nhất là các đảng bộ của các tỉnh biên giới như Cao Bằng, Lạng Sơn và các đảng bộ của các thành phố lớn như Hải Phòng, Hà Nội…</p>
<p>Đối với tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương của Việt kiều tại Xiêm và Lào, tình hình có những vấn đề phức tạp. Nhân danh phái viên của Quốc tế Cộng sản uỷ nhiệm, đồng chí Lê Hồng Phong cải tổ lại cơ cấu tổ chức của Đảng ở những nơi này. Đồng chí cho rằng tổ chức Đảng ở Xiêm (trong đó có cả các đảng viên người Hoa), tự đứng ra lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời (gồm 5 người) là một sáng kiến nhưng không đúng nguyên tắc tổ chức của Đảng. Thay mặt Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong chỉ đạo cải tổ lại thành các đảng bộ của Việt kiều trực thuộc Trung ương sẽ được thành lập lại nay mai”<a title="" href="http://doanhnghieptrunguong.vn/van-ban-chinh-sach-moi/201208/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-110-nam-Ngay-sinh-Tong-Bi-thu-Le-Hong-Phong-2175996/#_ftn4" name="_ftnref4"><sup>(</sup></a><sup>2)</sup></p>
<p><strong><em>b. Tham gia soạn thảo và triển khai “Chương trỡnh hành động của Đảng” tạo bước phát  triển mới cho cách mạng Việt Nam</em></strong></p>
<p>Trong khoảng thời gian cuối năm 1932, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Lê Hồng Phong, ngoài việc tổ chức, cơ cấu mạng lưới cơ sở Đảng trong nước, liên tục vận động cán bộ sang huấn luyện, bồi dưỡng lý luận cách mạng, đồng chí còn chỉ đạo thành lập một Ban lãnh đạo lâm thời của Đảng. Ban lãnh đạo thống nhất chủ trương tuyên truyền, học tập và hành động theo nội dung của bản kế hoạch: “<em>Chương trình hành động của Đảng</em>” do Lê Hồng Phong tham gia soạn thảo đã được Quốc tế Cộng sản thông qua. Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi trong lúc cách mạng Việt Nam bị khủng bố trắng, giữa lúc Đảng đang gặp thoái trào, những tư tưởng dao động, cơ hội, đang thừa cơ trỗi dậy, <em>Chương trình hành động</em><em> của Đảng</em> như một luồng gió mới tiếp sức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng giữ được niềm tin vững chắc vào tiền đồ cách mạng, đẩy lùi tư tưởng cầu an, hoang mang dao động, tạo điều kiện cho việc khôi phục nhanh chóng hệ thống tổ chức của Đảng và phong trào cách mạng của quần chúng. Bản <em>Chương trình hành động</em> <em>của Đảng </em>đã được Lê Hồng Phong dùng làm tài liệu giảng dạy cho các lớp cán bộ ở Quảng Tây (Trung Quốc), đồng thời còn được nhân bản đưa về nước làm tài liệu tuyên truyền giáo dục cho đông đảo cán bộ đảng viên và nhân dân trong nước, do đó nó còn có tác dụng thiết thực to lớn hơn.</p>
<p><em>Như vậy, cho đến cuối năm 1933, bằng năng lực, trí tuệ và quyết tâm phi thường, Lê Hồng Phong đã bước đầu hoàn thành trọng trách mà Quốc tế Cộng sản giao cho, xây dựng lại hệ thống tổ chức của Đảng trong cả nước, khôi phục các cơ sở cách mạng và khơi dậy niềm tin của quần chúng đối với Đảng, với cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Lê Hồng Phong, các tổ chức Đảng trong nước dần dần hoạt động trở lại và ngày càng lớn mạnh, phong trào cách mạng hồi sinh.</em></p>
<p><strong><em>c. Chủ trỡ thành lập và đứng đầu Ban lónh đạo của Đảng ở nước ngoài</em></strong></p>
<p>Cùng với việc khôi phục hệ thống cơ sở, tổ chức Đảng trong nước, vấn đề khôi phục bộ chỉ huy, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng ở nước ngoài cũng được đồng chí Lê Hồng Phong hết sức chú trọng. Đồng chí Lê Hồng Phong quyết định thành lập Ban lónh đạo của Đảng ở nước ngoài (cũn gọi là <em>Ban Chỉ huy ở ngoài</em>). Tháng 3-1934, dưới sự chủ trì của Lê Hồng Phong, Hội nghị thành lập <em>Ban chỉ huy ở ngoài</em> của Đảng được tiến hành. Dự Hội nghị có 5 đồng chí<a title="" href="http://doanhnghieptrunguong.vn/van-ban-chinh-sach-moi/201208/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-110-nam-Ngay-sinh-Tong-Bi-thu-Le-Hong-Phong-2175996/#_ftn5" name="_ftnref5"><sup>1</sup></a>. Hội nghị thảo luận về tình hình Đông Dương, tình hình hoạt động của Đảng ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Lào; thông tin về tình hình Đảng cộng sản Xiêm&#8230;Đặc biệt Hội nghị bàn bạc và thông qua các bản Điều lệ của Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản, Nông hội đỏ&#8230; Sau Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Dựt được cử về Nam Kỳ chỉ đạo thành lập Xứ uỷ Nam Kỳ. Trên cơ sở hệ thống tổ chức, cơ sở Đảng được khôi phục và phát triển, Ban Chấp uỷ Trung ương lâm thời cũng được thành lập ở Nam Kỳ, <em>Ban Chỉ huy ở ngoài</em> gấp rút chuẩn bị cho việc tiến tới Đại hội lần thứ nhất của Đảng được triệu tập vào năm sau (1935).</p>
<p>Vậy là chỉ sau một thời gian ngắn nhận nhiệm vụ trở về nước, mặc dù mạng lưới mật thám lùng sục gắt gao, đồng chí Lê Hồng Phong vẫn kiên định mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, tìm bắt liên lạc được với cơ sở  Đảng trong nước, từ đó móc nối, khôi phục tổ chức, đào tạo cán bộ, bổ sung cho đội ngũ cán bộ đã bị bắt, bị giết trong thời kỳ khủng bố trắng, dần dần khôi phục lại hệ thống cơ sở Đảng trong toàn quốc. Các tổ chức Đảng hải ngoại như đảng bộ Việt kiều ở Xiêm, ở Lào cũng được chỉnh đốn củng cố, góp phần đưa phong trào cách mạng trong nước phát triển lên một bước mới.</p>
<p>Đặc biệt, với việc thành lập <em>Ban Chỉ huy ở ngoài</em>, mà vai trò như Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, đã có tác động hết sức to lớn đối với phong trào cách mạng trong nước. Trước hết là duy trì niềm tin của quần chúng đối với Đảng, đồng thời khẳng định sức sống mãnh liệt và vị trí lãnh đạo của Đảng, không một thế lực nào có thể dập tắt được. Song trên hết, với sự hoạt động tích cực của <em>Ban Chỉ huy ở ngoài</em>, trong đó phải kể đến những cống hiến to lớn, hoạt động không mệt mỏi của đồng chí Lê Hồng Phong, đã góp phần quan trọng đưa Đảng ta trở lại vai trò lãnh đạo cách mạng, hệ thống tổ chức của Đảng từ cơ sở tới Trung ương đã dần dần được khôi phục, tạo tiền đề thuận lợi cho các bước phát triển của cao trào cách mạng cả nước ở giai đoạn sau.</p>
<p><strong>2. Lê Hồng Phong &#8211; Một trong những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh</strong></p>
<p>Sự gặp gỡ giữa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với Lê Hồng Phong đã mở ra bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của người thanh niên Xứ Nghệ. Là thế hệ cán bộ đầu tiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tuyển chọn, huấn luyện và đào tạo, Lê Hồng Phong đã được nghe những bài giảng đầu tiên về lịch sử phong trào cách mạng quốc tế và cách mạng giải phóng dân tộc, về những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin&#8230; Những bài học đó đã dẫn dắt và nâng tầm nhận thức của Lê Hồng Phong, từ một thanh niên giàu lòng yêu nước, dám xả thân vì sự nghiệp cứu nước, cứu dân, trở thành người cộng sản và là một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay từ khi được dự khoá huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (1925), đồng chí Lê Hồng Phong đã bộc lộ tư chất, tài năng của người cán bộ cách mạng và được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc phát hiện. Chính vì thế, Người đã gửi đồng chí vào những cơ sở đào tạo cán bộ cao cấp của Chính phủ Trung Hoa và trường đào tạo lãnh tụ của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô.</p>
<p>Trong suốt thời gian đồng chí Lê Hồng Phong đi học tập, đào tạo ở Liên Xô, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vẫn thường xuyên liên lạc thông qua đường dây của Quốc tế Cộng sản. Trong bức thư Nguyễn Ái Quốc gửi Lê Hồng Phong ngày 2-3-1930, Người thân mật gọi là: “Gửi Hồng Phong Lão”, thông báo về sự kiện ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời khẳng định: “Trong nước bây giờ đã có đảng thống nhất vững vàng, không còn những tệ chia lìa ấu trĩ như trước nữa”<a title="" href="http://doanhnghieptrunguong.vn/van-ban-chinh-sach-moi/201208/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-110-nam-Ngay-sinh-Tong-Bi-thu-Le-Hong-Phong-2175996/#_ftn6" name="_ftnref6"><sup>[3]</sup></a>. Điều đó thể hiện sự theo dõi, quan tâm đặc biệt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với Lê Hồng Phong. Không phụ lòng của người thầy dẫn dắt &#8211; lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Lê Hồng Phong đã từng bước trưởng thành cả về nhận thức lý luận và năng lực lãnh đạo.</p>
<p>Với những đóng góp to lớn đối với việc khôi phục và phát triển phong trào cách mạng Việt Nam trong những năm 1932-1935, đồng chí được mời tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản và được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản; được Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.</p>
<p>Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939), với vai trò Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Lê Hồng Phong đã có rất nhiều đóng góp vào việc hình thành chủ trương, đường lối của Đảng, góp phần đưa cách mạng Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới. Đồng chí Lê Hồng Phong đã thể hiện một tấm gương sáng ngời của người cộng sản: sống vì Đảng, chết không rời Đảng, trọn đời hy sinh phấn đấu vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đồng chí xứng đáng là một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh.</p>
<p><strong>3. Lê Hồng Phong &#8211; Tấm gương người cộng sản kiên cường</strong></p>
<p>Ngày 22-6-1939, đồng chí Lờ Hồng Phong bị thực dõn Phỏp bắt tại Sài Gòn. Biết đồng chí là cỏn bộ lónh đạo cao cấp của Đảng, bọn mật thám dùng mọi thủ đoạn tra tấn dã man; dụ dỗ, lừa phỉnh, nhưng chúng không thể lay chuyển được tinh thần và ý chí của người cộng sản kiên cường. Không đủ chứng cớ để buộc tội, tũa ỏn của đế quốc Pháp đành kết án đồng chí 6 tháng tù giam và 3 năm quản thúc ở Nghệ An. Mặc dầu bị quản thúc, theo dõi chặt chẽ, đồng chí vẫn dành thời gian viết báo, bí mật gửi cho các tờ báo của Đảng như tờ <em>Dân Chúng</em>, Đông Phương tạp chí&#8230; thể hiện tinh thần chiến đấu ngoan cường của người cách mạng kiên trung.</p>
<p>Chính vì thế, thực dân Pháp rất sợ người lãnh tụ cộng sản mà chúng gọi là: “Tên phiến loạn nguy hiểm”, cho nên, khi chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, dù đang trong thời gian quản thúc tại quê, nhưng mật thám Nam Kỳ đã ra Nghệ An bắt Lê Hồng Phong và áp giải vào giam giữ tại Sài Gòn. Trong thời gian gần 1 năm trời bị tra tấn, hành hạ, kẻ địch tìm mọi cách để khép đồng chí vào tội xử tử hình, nhưng không đủ chứng cứ, chúng giở đủ mọi thủ đoạn, kể cả dùng đòn tâm lý hòng lung lạc tinh thần của đồng chí. Biết đồng chí Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai là vợ chồng, có con nhỏ (Hồng Minh) mới được mấy tháng, chỳng đưa Nguyễn Thị Minh Khai đến gặp Lê Hồng Phong, hy vọng 2 người sẽ nhận nhau, qua đó chúng có cớ khép tội đồng chí dính líu tới “âm mưu lật đổ chính phủ Nam Kỳ”. Mặc dù hai vợ chồng lâu ngày không được gặp nhau, nay gặp lại trong cảnh tù đày, sống chết chia ly không biết thế nào, lòng đầy thương cảm, nhưng đồng chí vẫn kìm nén tình cảm riêng, kiên quyết phủ nhận mọi chứng cứ của kẻ thù đưa ra, làm thất bại âm mưu của chúng. Mặc dù vậy, thực dân Pháp vẫn buộc tội đồng chí phải “chịu trách nhiệm tinh thần” cho cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, kết án 5 năm tù giam và 10 năm quản thúc, đày ra Côn Đảo.</p>
<p>Trong những ngày bị biệt giam trong hầm đá, hoặc trong Banh II, nơi giam giữ tù cộng sản, kẻ thù luôn tìm cách đánh hành hạ, tra tấn, đánh đập dã man đồng chí Lê Hồng Phong, hòng làm nhụt tinh thần, ý chí của người lãnh đạo cộng sản. Có lần đồng chí vừa bưng bát cơm lên ăn, thì bọn cai ngục xông vào đánh túi bụi. Bát cơm của đồng chí bị nhuộm đỏ, do máu chảy từ đầu, từ mặt rớt vào, nhưng đồng chí vẫn thản nhiên, tiếp tục ngồi ăn “bát cơm chan máu”, với quyết tâm phải sống để: “còn sống còn chiến đấu”. Những trận đũn thự tàn ỏc, dó man, liên tục đó làm Lờ Hồng Phong dần dần kiệt sức, đồng chí đã vĩnh biệt anh em, đồng chí vào trưa ngày 6-9-1942.</p>
<p>Đồng chí Lê Hồng Phong hy sinh khi mới 40 tuổi đời, trong đó có hơn 20 năm liên tục hoạt động, cống hiến cho Đảng, cho cách mạng. Trước lúc đi xa, đồng chí Lờ Hồng Phong cũn căn dặn: &#8220;<em>Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lũng tin thắng lợi vẻ vang của cỏch mạng</em>&#8220;. Đó là lời chào của người cộng sản bất tử Lê Hồng Phong với anh em, đồng chí trước khi về cõi vĩnh hằng. Cho đến giờ phút cuối cùng, đồng chí vẫn tỏ rõ khí phách hiên ngang, ý chí kiên cường, bất khuất. Đồng chí là người chiến sĩ cộng sản tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Hình ảnh, tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí mãi mãi được khắc ghi trong trái tim, tâm hồn của các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau.</p>
<p><strong>BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG</strong></p>
<div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div id="ftn1">
<p><a title="" href="http://doanhnghieptrunguong.vn/van-ban-chinh-sach-moi/201208/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-110-nam-Ngay-sinh-Tong-Bi-thu-Le-Hong-Phong-2175996/#_ftnref1" name="_ftn1">[1]</a> Về ngày tháng năm sinh của đồng chí Lê Hồng Phong hiện còn nhiều tài liệu ghi chưa thống nhất. Theo người thân trong gia tộc và những người cao niên ở xã Hưng Thông nói: Lê Hồng Phong sinh vào  mùa Thu 1902, đúng vào dịp năm đó có trận lụt lớn. Có người nói Lê Hồng Phong sinh ngày 6-9-1902  (theo Lê Hồng Phong -Tiểu sử. NXB.CTQG.H. 2007, tr. 11).</p>
</div>
<div id="ftn2">
<p><a title="" href="http://doanhnghieptrunguong.vn/van-ban-chinh-sach-moi/201208/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-110-nam-Ngay-sinh-Tong-Bi-thu-Le-Hong-Phong-2175996/#_ftnref2" name="_ftn2"></a>2. Nghệ An là quê hương của nhiều văn thân, sĩ phu yêu nước nổi tiếng như Đặng Nguyên Cẩn, Phan Bội Châu &#8211; lãnh tụ của phong trào Đông Du, phong trào Quang Phục Hội và là quê hương của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh &#8211; Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.</p>
</div>
<div id="ftn3">
<p><a title="" href="http://doanhnghieptrunguong.vn/van-ban-chinh-sach-moi/201208/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-110-nam-Ngay-sinh-Tong-Bi-thu-Le-Hong-Phong-2175996/#_ftnref3" name="_ftn3">(1)</a> Báo cáo gửi Quốc tế cộng sản (15-1-1935), theo nguồn từ sách: “Lê Hồng Phong – Người cộng sản kiên cường”, Sđd, tr. 685 &#8211; 695</p>
</div>
<div id="ftn4">
<p><a title="" href="http://doanhnghieptrunguong.vn/van-ban-chinh-sach-moi/201208/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-110-nam-Ngay-sinh-Tong-Bi-thu-Le-Hong-Phong-2175996/#_ftnref4" name="_ftn4">(2)</a> Theo Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản của Lê Hồng Phong (tức Hải An ngày 15-1-1935), tài liệu đã dẫn,</p>
<p>Tr. 690 &#8211; 694</p>
</div>
<div id="ftn5">
<p><a title="" href="http://doanhnghieptrunguong.vn/van-ban-chinh-sach-moi/201208/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-110-nam-Ngay-sinh-Tong-Bi-thu-Le-Hong-Phong-2175996/#_ftnref5" name="_ftn5">1</a> Có tài liệu của Lê Hồng Phong nói chỉ có 3 người dự Hội nghị, nhưng trong Báo cáo ngày 15-1-1935, danh sách tham dự có nêu đầy đủ tên của 5 người gồm: Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt, Nguyễn Văn Tham và Trần Văn Chấn.</p>
</div>
<div id="ftn6">
<p><a title="" href="http://doanhnghieptrunguong.vn/van-ban-chinh-sach-moi/201208/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-110-nam-Ngay-sinh-Tong-Bi-thu-Le-Hong-Phong-2175996/#_ftnref6" name="_ftn6">[3]</a> Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, NXB.CTQG.H. 2000; tr.39.</p>
</div>
</div>
<p><!-- /wp:paragraph --></p>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-cua-dong-chi-le-hong-phong/">Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của đồng chí Lê Hồng Phong (06/09/1902 – 06/09/2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-cua-dong-chi-le-hong-phong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nghị luận xã hội về chủ quyền biển đảo</title>
		<link>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/nghi-luan-xa-hoi-ve-chu-quyen-bien-dao/</link>
					<comments>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/nghi-luan-xa-hoi-ve-chu-quyen-bien-dao/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đoàn Thanh niên]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 15 Apr 2021 03:15:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[myaloha]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://hiu.vn/?p=40941</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/nghi-luan-xa-hoi-ve-chu-quyen-bien-dao/">Nghị luận xã hội về chủ quyền biển đảo</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<style type="text/css"></style><p><div class="kc-elm kc-css-2460585 kc-row-container module"><div class="wc-row row"><div class="kc-wrap-columns"><div class="kc-elm kc-css-186485 small-12 columns small-12"><div class="kc-col-container"><div class="kc-elm kc-css-2284914 kc_text_block"></p>
<p></p>
<p class="has-text-align-left">Biển đảo quê hương luôn là một phần máu thịt trong mỗi người con dân đất Việt, biển đảo Việt Nam nói riêng và biển Đông nói chung đã trở thành một hữu thể không tách rời. Cuộc sống của nhân dân ta từ bao đời nay đã gắn bó với biển, đảo trên những con thuyền ra khơi đánh dấu chủ quyền và bảo vệ bờ cõi đất nước. Vấn đề chủ quyền biển đảo luôn là một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu trong các mục tiêu của quốc gia, bởi chủ quyền biển đảo cũng chính là chủ quyền lãnh thổ dân tộc, bảo vệ chủ quyền biển đảo là bảo vệ cuộc sống và tương lai của chúng ta.</p>
<p></p>
<p></p>
<p class="has-text-align-left">Biển đảo của nước ta bao gồm hai bộ phận là vùng biển và hệ thống các đảo, quần đảo. Vùng biển của Việt Nam có diện tích hơn 1 triệu km2 bao gồm 5 bộ phận: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa. Lãnh thổ nước ta có đường bờ biển dài 3260km với 28 tỉnh, thành phố giáp biển, vùng biển của nước ta tiếp giáp với 8 quốc gia: Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines, Brunei, Indonesia, Cambodia, Singapore. Nằm trong vùng biển nước ta có hơn 4000 đảo lớn nhỏ, đảo lớn nhất là Phú Quốc (Kiên Giang), hai quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng), Trường Sa (Khánh Hòa) và 12 huyện đảo thuộc 9 tỉnh. Biển đảo của Việt Nam từ xa xưa đã được chứng minh chủ quyền và trở thành bộ phận cấu thành nên phạm vi chủ quyền lãnh thổ của nước ta, biển cùng với đảo và quần đảo chính là hệ thống tiền tiêu để bảo vệ đất liền, là căn cứ để nước ta tiến ra biển và đại dương. Khẳng định được chủ quyền của nước ta đối với biển đảo chính là cơ sở để khẳng định chủ quyền với vùng biển, thềm lục địa xung quanh đảo. Vấn đề chủ quyền biển đảo hiện nay vô cùng phức tạp do sự xâm phạm chủ quyền bất hợp pháp của các quốc gia trên vùng biển và đảo của Việt Nam. Đặc biệt là sự tranh chấp các vùng biển tiếp giáp và chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một trong số những nước khuấy đảo vấn đề này mạnh mẽ nhất là Trung Quốc. Tuy nhiên, hàng nghìn những bằng chứng lịch sử từ ngàn đời đã chứng minh việc chiếm hữu và thực thi quyền chủ quyền đối với hai quần đảo này từ khi chúng còn là vùng đất vô chủ. Với các vùng biển, đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam ta cũng đã khẳng định và thực thi chủ quyền một cách rõ ràng, liên tục, hòa bình và phù hợp với các quy định của quốc tế.</p>
<p></p>
<p></p>
<p class="has-text-align-left">Vấn đề chủ quyền biển đảo luôn là vấn đề nóng bởi các nước trong khu vực đều nhận thức được vị trí chiến lược của biển Đông, nơi đây vừa là ngã tư đường hàng hải quốc tế lại có nguồn tài nguyên giàu có nên các quốc gia quanh biển Đông đã chú ý và tích cực các hoạt động tranh chấp, khai thác và xâm phạm. Trước những sự khuấy động và tác động tiêu cực của các quốc gia xung quanh, nước ta luôn phải giải quyết vấn đề tranh chấp về chủ quyền vốn đã được Liên Hợp Quốc và cả thế giới công nhận. Đối với các vùng biển, đảo xảy ra tranh chấp nói chung và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng, nước ta luôn khẳng định chủ quyền không tranh cãi, khẳng định quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở biển Đông. Trong những năm gần đây, những tranh chấp diễn ra trên biển đảo ảnh hưởng không nhỏ đến tình tình trật tự an ninh quốc phòng và đời sống nhân dân biển đảo, Đảng và Nhà nước ta luôn dựa trên những pháp lý quốc tế để có những thỏa thuận với những nước trong khu vực, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trên hòa bình, làm rõ chủ quyền với một số vùng biển, đảo và quần đảo có tranh chấp. Chúng ta luôn bảo vệ cho quyền chủ quyền đối với biển đảo quốc gia, mỗi người dân Việt Nam đều được trang bị kiến thức về biển đảo và chủ chủ quyền biển đảo của dân tộc, ý thức sâu sắc về sự thiêng liêng của biển đảo đối với đất nước. Bên cạnh đó, ta tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế để khẳng định chủ quyền của mình trên biển Đông, khẳng định với toàn thế giới rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.</p>
<p></p>
<p></p>
<p class="has-text-align-left">Thế hệ chúng ta hôm nay được sống trong hòa bình là nhờ công ơn của cha anh đã ngã xuống bảo vệ quê hương, đất nước, biển đảo thân thương. Chính vì vậy, chúng ta phải tích cực học tập, lao động và rèn luyện hơn nữa để góp phần vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc. Trang bị cho mình kiến thức về chủ quyền biển đảo, khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên trường quốc tế đồng thời lên án và đấu tranh với những hành động xâm phạm đến chủ quyền biển đảo Việt Nam.</p>
<p></p>
<p>
</div></div></div></div></div></div></p><p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/nghi-luan-xa-hoi-ve-chu-quyen-bien-dao/">Nghị luận xã hội về chủ quyền biển đảo</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/nghi-luan-xa-hoi-ve-chu-quyen-bien-dao/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Biển đảo tổ quốc hiện nay và hành động của thanh niên.</title>
		<link>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/bien-dao-to-quoc-hien-nay-va-hanh-dong-cua-thanh-nien/</link>
					<comments>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/bien-dao-to-quoc-hien-nay-va-hanh-dong-cua-thanh-nien/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đoàn Thanh niên]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 31 Mar 2021 03:35:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[myaloha]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://hiu.vn/?p=40973</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/bien-dao-to-quoc-hien-nay-va-hanh-dong-cua-thanh-nien/">Biển đảo tổ quốc hiện nay và hành động của thanh niên.</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<style type="text/css"></style><div class="kc-elm kc-css-475532 kc-row-container module"><div class="wc-row row"><div class="kc-wrap-columns"><div class="kc-elm kc-css-975959 small-12 columns small-12"><div class="kc-col-container"><div class="kc-elm kc-css-4071321 kc_text_block"><p></p>
<p>Tình hình biển đảo Việt Nam hiện nay đang có những diễn biến phức tạp đe dọa trực tiếp đến chủ quyền lãnh thổ của dân tộc. Trước tình hình căng thẳng ở biển Đông, “Thanh niên cần làm gì để bảo vệ Tổ quốc?”,  là câu hỏi nhận được sự quan tâm đặc biệt của các bạn trẻ khi đề cập đến thời sự biển Đông.</p>
<p></p>
<p></p>
<p><strong>Tình hình biển đảo? Nhận thức về tình hình?</strong></p>
<p></p>
<p></p>
<p>Biển đảo Việt Nam&nbsp; trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của người Việt Nam. Điều này đã được chứng minh bằng lịch&nbsp; sử và các tài liệu khoa học. Các tư liệu khoa học và pháp lý được công bố hiện nay, đều thể hiện quá trình khai phá, chiếm hữu và thực thi chủ quyền liên tục, của Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Tuy nhiên những năm gần đây, Trung Quốc đã có nhiều hành động xâm hại đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam: bắt ngư dân Việt làm ăn, tấn công các tàu Việt trên vùng biển của chính Việt Nam, ngang ngược xây dựng thành phố Tam Sa trên quần đảo Hoàng Sa…</p>
<p></p>
<p></p>
<p>Những hành động nói trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; xâm phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển của Việt Nam; vi phạm Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ký tháng 10/2011; trái với tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Tuyên bố cấp cao kỷ niệm 10 năm DOC, làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp.</p>
<p></p>
<p></p>
<p><strong> Hành động của thanh niên hiện nay</strong></p>
<p></p>
<p></p>
<p>Để bảo vệ chủ quyền biển đảo, trước hết thanh niên và thanh niên học sinh nói riêng phải xác định phải giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền biển đảo. Chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng chủ quyền biển đảo và giá trị to lớn chủ quyền mà ông cha ta đã đổ xương máu để xây dựng; về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quan đến chủ quyền biển đảo, về lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… tìm hiểu rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển đông cũng như nội dung của luật pháp, chế độ pháp lý của các vùng biển theo Công ước Liên hợp quốc về&nbsp; Luật biển 1982.</p>
<p></p>
<p></p>
<p>Thanh niên cần hưởng hứng và tích tực các diễn đàn hợp pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet, khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các diễn đàn, đồng thời kịch liệt lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các hành vi xâm phạm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam.</p>
<p></p>
<p></p>
<p>Thanh niên là hậu phương chỗ dựa tình cảm vững chắc đối với các lính biển đảo, bằng những việc làm thiết thực như gửi thư đến các lính Hải đảo để chia sẻ động viên và tiếp sức cho các anh thêm nghị lực để trông giữ biển đảo.</p>
<p></p>
<p></p>
<p>Điều quan trọng nữa là không ngừng tu dưỡng phẩm chất người Việt Nam mới,&nbsp; tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, có định hướng lý tưởng yêu nước và đoàn kết thì chúng ta sẽ kết nối khối sức mạnh lớn đủ sức bảo vệ chủ quyền biển đảo. &nbsp;Bên cạnh đó sẵn sàng chuẩn bị tinh thần tham gia trực tiếp vào công cuộc giữ gìn biển đảo quê hương bằng tất cả những gì mình có thể.</p>
<p></p>
<p></p>
<p><strong>Kết luận</strong></p>
<p></p>
<p></p>
<p>Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Trách nhiệm của tuổi trẻ nói riêng là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn”các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”.</p>
<p></p>
</div></div></div></div></div></div><p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/bien-dao-to-quoc-hien-nay-va-hanh-dong-cua-thanh-nien/">Biển đảo tổ quốc hiện nay và hành động của thanh niên.</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/bien-dao-to-quoc-hien-nay-va-hanh-dong-cua-thanh-nien/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phùng Chí Kiên</title>
		<link>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-dong-chi-phung-chi-kien/</link>
					<comments>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-dong-chi-phung-chi-kien/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đoàn Thanh niên]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 27 Mar 2021 01:39:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[myaloha]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://hiu.vn/?p=41814</guid>

					<description><![CDATA[<p>Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phùng Chí Kiên là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và tôn vinh công lao, cống hiến to lớn của Đồng chí đối với cách mạng Việt Nam; qua đó giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự <a class="read-more" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-dong-chi-phung-chi-kien/">Read More...</a></p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-dong-chi-phung-chi-kien/">Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phùng Chí Kiên</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phùng Chí Kiên là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và tôn vinh công lao, cống hiến to lớn của Đồng chí đối với cách mạng Việt Nam; qua đó giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, cổ vũ, động viên các tầng lớp Nhân dân học tập, noi theo, góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước.</p>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-large"><img loading="lazy" width="607" height="360" src="https://hiu.vn/wp-content/uploads/2021/06/khu-tuong-niem-phung-chi-kien.jpg" alt="" class="wp-image-41815" srcset="https://hiu.vn/wp-content/uploads/2021/06/khu-tuong-niem-phung-chi-kien.jpg 607w, https://hiu.vn/wp-content/uploads/2021/06/khu-tuong-niem-phung-chi-kien-300x178.jpg 300w" sizes="(max-width: 607px) 100vw, 607px" /><figcaption><em>Một hạng mục thuộc Khu Tưởng niệm đồng chí Phùng Chí Kiên tại huyện Diễn Châu</em>.</figcaption></figure></div>



<p>Đồng chí Phùng Chí Kiên, tên thật là Nguyễn Vĩ, sinh ngày 18/5/1901 trong một gia đình nông dân ở làng Mỹ Quan, tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Châu, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) &#8211; một quê hương giàu truyền thống cách mạng.</p>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-large"><img loading="lazy" width="200" height="277" src="https://hiu.vn/wp-content/uploads/2021/06/200px-Phung_Chi_Kien.jpg" alt="" class="wp-image-41816"/></figure></div>



<p>Cuộc đời, sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một gương sáng mẫu mực của người chiến sĩ cộng sản trên nhiều phương diện; một nhà chính trị, quân sự tài ba, lỗi lạc. Đó là tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, giữ vững ý chí chiến đấu đến cùng. Luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và Nhân dân, giữ vững ý thức tổ chức kỷ luật và ý chí chiến đấu, nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nghị quyết của Đảng. Gương mẫu trong công tác, giản dị trong lối sống, gần gũi, hòa mình với đồng bào, đồng chí&#8230;</p>



<p>Ghi nhận công lao của đồng chí Phùng Chí Kiên trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, ngày 23/9/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 89/SL truy phong cấp tướng cho đồng chí Phùng Chí Kiên. Đây là sắc lệnh phong tướng đầu tiên của Nhà nước ta.</p>



<p>Tháng 11/2003, Đảng, Chính phủ ra quyết định công nhận đồng chí Phùng Chí Kiên là nguyên ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (khóa I), cán bộ lãnh đạo quân đội cấp tướng, liệt sĩ hy sinh anh dũng trong chiến đấu.</p>



<p>Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phùng Chí Kiên là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và tôn vinh công lao, cống hiến to lớn của Đồng chí đối với cách mạng Việt Nam; qua đó giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, cổ vũ, động viên các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam học tập, noi theo, góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước.</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-dong-chi-phung-chi-kien/">Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phùng Chí Kiên</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-dong-chi-phung-chi-kien/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Lê Thanh Nghị</title>
		<link>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-le-thanh-nghi/</link>
					<comments>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-le-thanh-nghi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đoàn Thanh niên]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 06 Mar 2021 01:32:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[myaloha]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://hiu.vn/?p=41812</guid>

					<description><![CDATA[<p>Đồng chí Lê Thanh Nghị tên thật là Nguyễn Khắc Xứng, sinh ngày 6-3-1911, trong một gia đình Nho giáo, có truyền&#160;&#160;thống yêu nước và hiếu học.&#160;Đồng chí mất ngày 16-8-1989, tại Hà Nội.&#160;Do có công lao to lớn trong quá trình cách mạng và hai cuộc kháng chiến, đồng <a class="read-more" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-le-thanh-nghi/">Read More...</a></p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-le-thanh-nghi/">Kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Lê Thanh Nghị</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Đồng chí Lê Thanh Nghị tên thật là Nguyễn Khắc Xứng, sinh ngày 6-3-1911, trong một gia đình Nho giáo, có truyền&nbsp;&nbsp;thống yêu nước và hiếu học.&nbsp;Đồng chí mất ngày 16-8-1989, tại Hà Nội.&nbsp;Do có công lao to lớn trong quá trình cách mạng và hai cuộc kháng chiến, đồng chí được tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta.</p>



<p>Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Lê Thanh Nghị là tấm gương sáng về tinh thần cách mạng kiên trung ái quốc, sống và chiến đấu suốt đời cho lý tưởng cao cả, là niềm tự hào của mảnh đất Gia Lộc anh hùng, của quê hương Hải Dương truyền thống cách mạng, xứng đáng cho chúng ta và thế hệ mai sau noi theo.</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-le-thanh-nghi/">Kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Lê Thanh Nghị</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://hiu.vn">Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://hiu.vn/doan-hoi-hiu/myaloha/ky-niem-110-nam-ngay-sinh-dong-chi-le-thanh-nghi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
