Chức năng của van hai lá trong cơ thể người

Cập nhật lần cuối vào 01/04/2026

Cấu tạo của van hai lá

Trong hoạt động bình thường của tim, máu phải chảy từ một buồng tim đến buồng tim tiếp đến theo một chiều, và tim cần có các cấu trúc để ngăn ngừa sự di chuyển ngược lại của máu. Các cấu trúc này là van (tiếng Anh: valves).

Trong tim của một người khỏe mạnh bình thường, có bốn van: hai van nhĩ thất (atrioventricular valves) và hai van bán nguyệt (semilunar valves), còn gọi là van tổ chim. Hai van nhĩ thất sẽ chắn giữa tâm nhĩ và tâm thất ở tim phải và tim trái, và hai van bán nguyệt sẽ chắn giữa các tâm thất và các động mạch chính đi ra từ tâm thất.

Có hai van nhĩ thất. Giữa tâm nhĩ phải và tâm thất phải, chúng ta có van nhĩ thất phải, hay còn gọi là van ba lá (tricuspid valve). Giữa tâm nhĩ trái và tâm thất trái, chúng ta có van nhĩ thất trái, hay van hai lá (mitral valve – Hình 1). Nhiệm vụ của van hai lá là ngăn chặn không cho máu di chuyển từ tâm thất trái ngược về tâm nhĩ trái. Chức năng này hỗ trợ cho sự lưu thông một chiều của máu qua tim và ngăn máu di chuyển theo hướng không mong muốn [1].

Hình 1. Vị trí của van hai lá (tên được khoanh đỏ) và các cấu trúc liên quan

Ý nghĩa của tên gọi tiếng Anh của van hai lá

Trong tiếng Anh, van hai lá có tên gọi là mitral valve. Từ này xuất phát từ một từ khác trong tiếng Latin – “mitra”. Đây là tên của loại mũ được đội bởi các giáo hoàng hay giám mục trong Thiên Chúa Giáo.

Khi ta nhìn kỹ, có thể nhận ra rằng hình dạng của chiếc mũ này (gọi tạm là “mũ ni”) rất giống với cấu trúc van hai lá, với cấu trúc 2 “lá” rất đặc trưng (Hình 2). Do sự giống nhau này, Andreas Vesalius, nhà giải phẫu học đại tài người Hà Lan, lúc vừa phát hiện ra van hai lá đã đặt tên cho nó là “mitral valve”. [2]     

Hình 2. So sánh cấu trúc giữa van hai lá (được đóng khung màu xanh hình bên trái và mũ ni – mitra – ở bên phải 

Cơ chế hoạt động của van hai lá

Các van nhĩ thất (bao gồm van hai lá) đóng và mở theo cơ chế thụ động. Van hai lá sẽ đóng khi có áp lực cao đẩy máu đi ngược lại (ví dụ từ tâm thất trái quay về tâm nhĩ trái) và sẽ mở ra khi có áp lực cao đẩy máu đi theo hướng thuận chiều (ví dụ như từ tâm nhĩ trái đến tâm thất trái).

Các lá của van hai lá cũng được nối bằng các thừng gân vào hai cơ nhú (Hình 3). Các cơ nhú này sẽ co lại khi thành tâm thất co, và giúp kéo các lá van hai lá về phía tâm thất trái để các lá van này không bị phồng lên quá mức (sa) vào tâm nhĩ trái khi tâm thất trái co. Nếu một trong các cơ nhú bị liệt hay thừng gân bị rách, van sẽ bị sa vào tâm nhĩ trái, có thể dẫn đến máu di chuyển ngược lại từ tâm thất trái vào lại tâm nhĩ trái. [3]  

Hình 3. Sự liên quan lá van của van hai lá, thừng gân, và cơ nhú (trích từ Guyton and Hall Medical Physiology, 15th edition)

Các bất thường của van hai lá

Sự bất thường của van hai lá có thể dẫn đến một số bệnh lý trên lâm sàng như:

  • Hẹp van hai lá (Mitral valve stenosis): là trường hợp van hai lá mở không hết trong giai đoạn tâm trương, lúc mà đáng lẽ ra máu phải di chuyển từ nhĩ trái xuống thất trái. Bệnh lý này làm hẹp lỗ nhĩ thất trái, làm máu không xuống được thất trái và, do vậy, ứ lại trên nhĩ trái trong giai đoạn tâm trương. Máu đi qua lỗ nhĩ thất trái khó khăn, làm xuất hiện một tiếng thổi tim thì tâm trương có âm trầm, ngay sau tiếng clack mở van 2 lá (opening – snap) do sự mở ra của lá van 2 lá bị dày lên và mở ra khó khăn. [4]

Ngoại trừ các đặc điểm (tiếng clack mở van và tiếng thôi tâm trương như đã đề cập), ở các trường hợp nặng, bệnh nhân có thể bị suy tim phải kèm với các dấu hiệu của nó, bao gồm tĩnh mạch cổ nổi (jugular venous distension), gan to, báng bụng (ascites), và có thể có dấu nảy thất phải (left parasternal heave/ impulse). Nguyên nhân của dấu hiệu này là do máu bị ứ lại tại tâm nhĩ trái và tiếp tục ứ lại lên tuần hoàn phổi, gây ra tăng áp mạch phổi (pulmonary hypertension). Sự tăng áp mạch phổi này cuối cùng làm tăng hậu tải mạch phổi (pulmonary afterload) làm tâm thất phải bù trừ bằng cách phì đại cơ tim, làm thất phải khi co bị đẩy ra phía trước, áp sát thành ngực và làm xung động có thể cảm nhận được trên thành ngực (heave) [5].

  • Hở van hai lá (Mitral valve regurgitation): xảy ra khi van hai lá đóng không hết trong giai đoạn tâm thu. Trong giai đoạn này, máu đang di chuyển từ thất trái đến động mạch chủ. Tuy nhiên, do van hai lá bị hở, nên một lượng máu sẽ bị trào ngược lên nhĩ trái, gây ra một tiếng thổi tim toàn tâm thu (holosystolic murmur) nghe rõ nhất tại vị trí đỉnh tim, lan đến nách trái.

Trên lâm sàng, biểu hiện được chia thành cấp tính và mạn tính. Ở thể cấp, bệnh nhân thường xuất hiện khó thở dữ dội ngay cả khi nghỉ, nặng hơn khi nằm, có thể kèm ho bọt trong hay bọt hồng (pink, frothy sputum). Các dấu hiệu nặng bao gồm tụt huyết áp, nhịp tim nhanh, thở nhanh, giảm oxy máu và tím tái, thậm chí sốc tim (cardiogenic shock) do giảm đột ngột cung lượng tim. Khám lâm sàng có thể ghi nhận tĩnh mạch cổ nổi và ran lan tỏa (diffuse crackles) ở phổi.

Ở thể mạn, bệnh nhân thường không có triệu chứng trong thời gian dài, sau đó xuất hiện mệt, khó thở khi gắng sức, khó thở khi nằm và cơn khó thở kịch phát về đêm (paroxysmal nocturnal dyspnea). Khám lâm sàng thấy hiệu số huyết áp rộng, nhịp mỏm tim bị lệch (displaced apical impulse) và tiếng thổi toàn tâm thu ở mỏm lan nách. Ở giai đoạn muộn, có thể xuất hiện tím tái, ngón tay dùi trống (clubbing), gan to, báng bụng và tràn dịch màng phổi hoặc màng tim, tương ứng với sự nặng hơn của tình trạng tăng áp phổi [6].

Tài liệu tham khảo

1. Widmaier, E. P., & Vander, A. J. (2019). Vander’s human physiology : the mechanisms of body function (Fifteenth edition). McGraw Hill Education.

2. Ho, S. Y. (2002). Anatomy of the mitral valve. Heart, 88(Suppl 4), iv5–iv10. https://doi.org/10.1136/heart.88.suppl_4.iv5

3. Hall, J. E., & Hall, M. E. (2026). Guyton and Hall textbook of medical physiology (Fifteenth edition). Elsevier. https://www.vlebooks.com/vleweb/product/openreader?id=none&isbn=9780443113499

4. Shah, S. N., & Sharma, S. (2021). Mitral stenosis. In StatPearls. StatPearls Publishing. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK430742/

5. Gillam, P. M., Deliyannis, A. A., & Mounsey, J. P. (1964). THE LEFT PARASTERNAL IMPULSE. British heart journal26(6), 726–736. https://doi.org/10.1136/hrt.26.6.726

6. Douedi, S., & Douedi, H. (2024). Mitral regurgitation. In StatPearls. StatPearls Publishing. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK553135/

Liên hệ chúng tôi ngay: 0938.69.2015 - 0964.239.172